[TổngHội] [CươngLĩnh] [ĐiềuLệ] [LịchSử] [H.R.2833] [ThờiSự] [H́nhẢnh] [PhátThanh] [TácPhẩm] [BảnTinCũ] [ViếtVềTù]
A
, B,
C,
D,
Đ.E,
G,
H,
K,
L,
M,
N&O,
P,
Q,
R,
S,
Ta-Th,Ti-Tu,
U,
V,
X,
Y

Cập nhựt hóa vào ngày:14-02-2009
Trong trang này chúng tôi xin giới thiệu các bài viết nói về những mảnh đời cuả những ngườ́ tù cộng sản
Xin giới thiệu bài viết về Chuẩn Uư Nguyễn Văn Phần, Sữ Gia Phạm Văn Sơn, Thiếu Uư Nguyễn Quốc Trụ, Biệt Kích Mai Văn Tuấn, Ông Lương Trọng Tường, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
![]()
Cái Chết của Sử Gia Phạm Văn Sơn! (bài 1)
Nguyễn Văn Dưỡng
Trước năm 1975, ở miền Nam, ông Phạm Văn Sơn là một trong rất ít những vị viết sử. Bộ sử được nhiều người biết đến nhất của ông là bộ Việt Sử Tân Biên.
Tôi hân hạnh được làm việc dưới quyền chỉ huy của ông từ năm 1958 đến 1960. Thời gian này ông mang cấp bậc Thiếu tá, giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Quân Báo & Chiến Tranh Tâm Lý Cây Mai; tôi mang cấp bực Trung úy, là huấn luyện viên và sĩ quan an ninh của Trường. Chính trong thời gian này, ông đã tu chỉnh bộ sử nói trên và cho tái bản.
Những thì giờ nhàn rỗi, tôi đã tình nguyện giúp ông. Tôi được ông giới thiệu đến gặp ông Lê Ngọc Trụ, công chức làm việc ở Thư Viện Quốc Gia -- lúc đó còn nằm trên đường Gia Long -- để nhờ hướng dẫn sưu tầm tài liệụ Ông Lê Ngọc Trụ còn là một học giả, giảng sư Ngữ học của Đại học Văn khoa Saigon, đã chỉ dẫn cho tôi tìm được khá nhiều tài liệu và sách viết bằng tiếng Pháp về thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Các tài liệu này cũng như những tài liệu quí giá khác, giúp cho ông Phạm Văn Sơn tu chỉnh Việt Sử Tân Biên. Thời gian làm việc với ông, tôi đã học được ở ông nhiều điều về viết lách.
Năm 1961, trường Cây Mai đổi tên, chỉ còn là trường Quân Báọ Ngành Chiế Tranh Tâm Lý tách ra riêng, đuợc dạy riêng ở một trường của ngành này, mới thành lập, ở một địa điểm khác; do đó, Thiếu tá Phạm Văn Sơn cũng được thuyên chuyển về ngành Chiến Tranh Chính Tri Sau đó không lâu, ông được bổ nhậm vào chức vụ Trưởng Ban Quân Sử của Quân Lực VNCH, thuộc Bộ Tổng Tham Mưụ Ông lần lượt được thăng đến cấp Đại tá và giữ nhiệm vụ này cho đến ngày miền Nam sụp đổ.
Tôi nghĩ rằng, với khả năng của ông và và dưới sự chỉ đạo của người viết sử sở trường và kinh nghiệm như ông, hẳn là Ban Quân Sử Quân Lực VNCH đã viết được những bộ sử chiến tranh VN cận đại quí giá, nhất là binh sử thời kỳ sau năm 1954 trở đị Tôi nghĩ như vậy vì tôi biết ông PVS rất thận trọng, không thể khinh xuất trong nhiệm vụ của mình và càng không thể để cho thuộc cấp khinh xuất. Ngày trước ông thường bảo tôi :"Phải cố gắng làm sao cho mức độ trung thực và chính xác cao chừng nào tốt chừng đó, như vậy thì những điều mình viết về sử mới mong có thêm một chút giá trị Việc sưu tập những sự kiện, chứng tích, tài liệu có độ xác tính cao nhiều chừng nào thì việc so sánh, nghiên cứu, lượng giá, đối chiếụdễ chừng nấy". Đó là lề lối làm việc nghiêm cẩn, thận trọng của ông. Vì vậy sau này, năm 1972, tôi đã không ngạc nhiên khi chiến trường An Lộc còn đang sôi động với những trận đánh đối tuyến chỉ cách nhau có một con đường, giành nhau từng góc phố -- giữa các đơn vị VNCH và quân CS Bắc Việt -- khi những cơn pháo kích dữ dội của địch quân chưa giảm, khi không một chiếc trực thăng nào đáp xuống An Lộc mà không sợ tan xác,tôi đã thấy ông hiện diện ở chiến trường này để tìm hiểu sự thật viết về trận chiến khốc liệt đó.
Lúc bấy giờ, tôi là Trưởng Phòng 2 của Bô Tư Lệnh Hành Quân của tướng Lê Văn Hưng, đã cung cấp cho ông những tài liệu, sự kiện "sống" nóng bỏng, chính xác và đầy đụ Tuy nhiên, muốn viết cho trung thực hơn, ông đã ở lại trong hầm chống pháo với tôi một đêm, thức trắng để nghe tiếng đạn pháo của địch quân rơi trên đầu mình và xung quanh đâu đó, vừa hỏi tôi thật chi tiết về những sự kiện ghi trong nhật ký hành quân (mỗi phòng của Bộ Tư Lịnh Hành Quân đều có) kể cả tài liệu, cung từ tù binh của địch bắt được trong các trận đánh trước ở đó.
Sau khi ông rời An Lộc, không bao lâu mặt trận được giải tỏa, tôi đến Bộ Tổng Tham Mưu để gặp ông thì được biết ông đã ra Quảng Trị để làm nhiệm vụ như đã làm ở An Lộc. Như vậy ông và những sĩ quan thuộc cấp trong Ban Quân Sử đã hiện diện ở khắp chiến trường lớn để tìm sự thật viết về binh sử.
Tôi nêu lên những chi tiết trên đây mong các bạn hình dung được tư cách khả trọng của một người viết sử chân chính, ông PVS, một người đã thành danh trong giới trí thức VN, để rồi tôi xin kể lại những ngày cuối cùng bi đát trước cái chết thảm thương của ông trong lao tù, dưới chế độ bất nhân, tàn độc của CSVN.
Ngày 30/4/75, như mọi người đều biết, Dương Văn Minh, một tổng thống phi hiến định, tuyên bố đầu hàng CS Bắc Việt vô điều kiện, Quân Lực VNCH bị bức tử, buông súng, tan rạ Một số tướng lãnh, sĩ quan cấp tá, cấp úy tuẫn tiết. Tất cả những sĩ quan còn lại ở miền Nam vào lúc đó, bị dồn vào các trại tập trung tạm trong lãnh thổ miền Nam, cùng với các cấp chỉ huy cảnh sát, công chức cao cấp và các nhà hoạt động chánh trị trong các đảng phái miền Nam.
Một năm sau, CS đưa tất cả những người mà họ gọi là có "nợ máu" nhiều nhất với nhân dân miền Bắc, giam giữ và bắt lao động khổ sai ở những trại giam trong rừng sâu nước độc của Thượng du và Trung du Việt Bắc. Một số sĩ quan và công chức khác còn bị giam giữ ở các trại cải tạo miền Nam.
Tháng 6, năm 1976, đợt tù nhân đầu tiên bị đưa ra Bắc, trong đó có tôi, bị dồn cứng dưới khoang của những chiếc tàu thủy cận duyên cỡ nhọ loại chuyên chở của quân đội CS. Sau 4 ngày 4 đêm, tàu cập ở Bến Thủy thuộc Vinh. Từ đó vào nửa khuya, chúng tôi bị chuyển vào bờ, lần này thì bị dồn vào các toa tàu hỏa dùng để chở súc vật, lên phía Bắc.
Ngày 15/6/76 -- ngày duy nhất mà tôi nhớ suốt 13 năm tù -- đúng một năm sau ngày tôi đưa đầu vào cùm ở trường Don Bosco ở Gò Vấp -- trên chuyến tàu hỏa nói trên, qua một kẻ hở thật nhỏ của toa tàu, tôi đã nhìn thấy nhà thương Bạch Mai và ga Hàng Cỏ, những địa danh của Hà Nội mà tôi đã được đọc qua trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, thuở tuổi học trọ 2 sĩ quan tù nhân cấp Tá đã ngộp thở chết trong toa chở súc vật, quãng giữa đường Việt Trì - Yên Báị Kể từ đó, có thêm hàng trăm tù nhân đi trên những chuyến tàu định mệnh này đã ngã xuống ở các trại tù miền Bắc, vĩnh viễn không còn thấy được những chuyến tàu xuôi Nam...Trong số những người này có Đại Tá Phạm Văn Sơn.
Một số tù nhân trên dưới một ngàn người trên các toa tàu này được đổ xuống ga Yên Bái, trong số đó có tôị Từ ga Yên Bái, bộ đội CS dùng xe quân sự Molotova chuyển chúng tôi theo đường bộ lên Sơn La giam giữ ở các trại giam dành cho quân nhân. Tôi ở đó được một năm rồi bị chuyển sang trại giam công an, cũng ở Sơn La, trong 2 năm nữa.
Năm 1979, trước cuộc chiến ngắn ngủi giữa Trung Cộng và CSVN không bao lâu, tất cả chúng tôi -- những tù nhân chính trị -- ở những trại giam trên các tỉnh biên giới phía Bắc và Tây Bắc được chuyển về các trại giam vùng Trung Du và các tỉnh phía nam, tây nam Hà Nội, như các trại giam Tân Lập (Vĩnh Phú), Nam Hà (Nam Định), Thanh Phong (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh),...
Sự chuyển dồn trại như vậy làm cho đời sống lao tù chúng tôi đã cơ cực càng cơ cực hơn, ăn đã đói càng đói hơn, mỗi người không có được đến 4 dm2 để có thể nằm ngửa, phải nằm nghiêng chen chúc lẫn nhau mà ngủ sau mỗi ngày lao động nặng nhọc, nên phòng giam nào cũng hôi hám, thiếu ánh sáng, thiếu không khí đến ngộp thở, bao nhiêu chứng bệnh ngặt nghèo nguy hiểm đã bộc phát trong anh em chúng tôi, thuốc men không có để trị, mạng sống của mọi người cũng bị Tử Thần rình rập từng ngày từng đêm.
Ða số anh em chúng tôi được đưa về trại giam Tân Lập do công an quản chế, bây giờ đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá công an Nguyễn Thủy, một tên cán bộ chữ nghĩa viết chưa hết một lòng bàn tay nhưng vẫn thích đọc thơ Tố Hữu và Huy Cận trước mặt anh em tù nhân, trong khi lòng dạ lại hiểm độc vô lường...
Tân Lập là một hệ thống trại gồm một trại chính và nhiều phân trại thường được gọi là K, đánh số từ K1 đến K7, nằm rải rác hai bên bờ một nhánh sông bắt nguồn từ sông Lô, chảy qua xã Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phụ Tôi đến Tân Lập ngày nào năm đó, đã không còn nhớ nữa, chỉ nhớ là lúc đó trời đã bắt đầu trở lạnh; dù vậy, sau mỗi buổi lao động vẫn phải theo mọi người ra những bãi vắng trên sông này để tắm trước khi về trạị Chính ở các bãi tắm này chúng tôi mới thấy hình hài khốn khổ của nhau, vì mọi người đều trần truồng. Trong khi số tù nhân từ Sơn La mới chuyển về người ngợm còn chút thịt da, thì, những anh em tù đã ở trại giam K2 Tân Lập từ mấy năm trước thân thể chỉ còn da bọc xương, đến 2 bên mông là nơi lý ra phải còn có chút thịt, cũng chỉ thấy có xương xẩu nhô hẳn lên, trông thật thảm nãọ Khi tắm ai cũng rét run, vì cái lạnh của trời và nước làm cho mọi người thấu buốt ruột gan...bởi trong người không còn năng lượng để kháng nào nửa.
Tôi nói lên những điều này để chỉ rõ chế độ quản chế, đối xử với tù nhân chính trị của trại giam Tân Lập cay nghiệt hơn bất cứ trại giam nào mà chúng tôi đã trải qua trước đó, mặc dù chúng tôi biết rằng với chế độ tập trung cải tạo, trại giam là nơi CSVN giết người kín đáo nhất, ít đổ máu nhất, bằng áp đặt khổ sai vắt sức, bằng bỏ đói trường kỳ khiến cho tù nhân chết mỏi mòn vì kiệt sức, vì bệnh hoạn hay vì những lý do mờ ám khác nữạ Không một ai trong chúng tôi, lúc đó, thoát khỏi sự thách đố của định mệnh, của cái chết đến bằng nhiều cách ở bất cứ lúc nàọ Ở Tân Lập, bọn công an Nguyễn Thùy đã làm hơn những điều chúng tôi nghĩ, đã biết. Vì thế các tù nhân chính trị chết trong các phân trại Tân Lập nhiều hơn bất cứ nơi nào khác. Riêng ở phân trại K2, mấy tháng mùa đông cuối năm 1979, đầu năm 1980, mỗi ngày ít nhất cũng có 1 đến 2 tù nhân chết; con số tù nhân đến bệnh xá (không có một thứ thuốc men nào để trị bệnh), hằng ngày hơn 200 người, mục đích không phải là để xin trị bệnh, nhưng để được khám, chứng nhận là bệnh, để khỏi đi lao động, được ngày nào đỡ ngày đó, mặc dầu họ là những người bệnh thực sự cần phải được điều trị và miễn làm việc...
Tại K2 Tân Lập, trong hoàn cảnh chung như vậy, tôi đã gặp lại ông Phạm Văn Sơn.. Tôi đã nhìn thấy tận mắt những ngày sống bi đát cuối cùng của đời ông.
Chừng một tháng sau khi đến K2, một buổi trưa, tôi và một người bạn tù khác cùng đợi đến phiên phải lên phạn xá gánh cơm về cho anh em trong đội ăn sau buổi lao động; trong khi chờ đến lượt mình nhận cơm, tôi đã vơ vẫn đến bên ngoài hành lang của một căn phòng nhỏ cạnh phạn xá, tôi thấy một người, đã nhận ra ông mà cứ ngỡ là đôi mắt mình đã nhìn lầm.
Ông chính là Dại tá Phạm Văn Sơn, vị chỉ huy trưởng ngày xưa của tôi. Ông chỉ còn là cái bóng âm thầm, một cái xác sắp mục nát, bất động, câm nín sau chân song sắt, bên trong cửa sổ của căn phòng "cách ly", duy đôi mắt hiền hòa thì vẫn tinh anh như thuở nào. Rõ ràng ông hiện hữu như một tĩnh vật có linh hồn sáng suốt, đang nhìn ngắm mọi sự vật đổi thay, quay cuồng điên đảo với những nhận định xuyên suốt, những ý nghĩ sâu sắc, cao xa nào đó một cách hữu thức, vì chính đôi mắt nhìn lắng sâu, và sáng kia là "cửa sổ linh hồn ông", cho tôi biết điều đó.
Tôi nhìn ông và ông nhìn tôị Trong một thoáng, quá khứ như chổi dậy; không biết vì mừng rỡ hay vì ngỡ ngàng xúc động, tôi chợt buộc miệng gọi lên :
- "Thầy" !
Chỉ một tiếng rồi lặng thinh. Tôi còn biết nói gì hay làm gì hơn khi mà ai cũng biết rằng mình bất lực trước hoàn cảnh bất hạnh nào riêng của mỗi người.
Mắt ông hình như sáng hơn, ông đã nhận ra tôi. Trong gương mặt đã biến dạng, sần sùi của ông, với đôi môi khẽ chớp động, tôi đã nhìn thấy một nụ cười. Ông đã hiểu rõ tâm trạng của tôi, tuy ông lặng lẽ không nói một lời nào.
Không một dấu hiệu, ông rời song cửa sộ Chỉ chưa đầy một phút sau, cánh cửa ra vào của căn phòng nhỏ -- đang khép hờ -- mở rộng rạ Ông đứng ở ngưỡng cửa, thẳng thớm như đứng giữa giang san của mình, một giang san thu hẹp đến thật nhỏ nhoi, lạnh lẽo, cô độc...
Với thế đứng vững vàng như vậy ông đã cho tôi ý nghĩ là, chính nơi này, nơi thật nhỏ nhoi này, là nơi ông đã tìm ra nguyên ủy, phương trình giải quyết và kết luận cho một nan đề khó giải quyết nhất, hay ông đang ấp ủ một điều gì thật to tát trong tư tưởng của ông. Nhận xét của tôi không thể nhầm lẫn vì ngày xưa nhiều lần tôi đã nhìn vào mắt và tư thế của ông mà đoán đúng những gì ông định ra lệnh cho tôi hay muốn nói cùng tôị Ở lần gặp lại này, tôi cũng linh cảm được ý nghĩ của ông như thuở đó.
Tôi định bước vào hành lang, tiến đến gần ông nhưng kịp thấy ông nhìn tôi khẽ lắc đầụ Tôi dừng lại và ghi nhận đầy đủ hơn tín hiệu của căn bệnh ghê gớm đã và đang tàn phá cơ thể của ông.
Ông đứng thẳng, hai tay chập lại để trước người, những ngón tay đan chéo vào nhau, chỉ nhìn tôi không nói một lời nàọ Ngày đó, trời đã lạnh. Tuy nhiên, tôi nghĩ không phải vì trời lạnh mà ông trùm kín đầu bằng một chiếc khăn lông trắng đã trở màu vàng, bẩn và lấm tấm những vệt máu, mụ Vòng khăn quấn kín cổ chỉ chừa có đôi mắt, mũi, miệng và một phần rất nhỏ ở 2 bên mạ Ông trùm kín mặt như vậy có lẽ đã che bớt đi những vết lở lói trên mặt mình, bởi chứng bệnh nan y của ông.
Thân thể gầy gò nhưng cộm lên vì mặc nhiều lớp áo quần bên trong; bên ngoài, ông mặc một chiếc áo mưa màu nhà binh đã thật cũ, sờn rách một đôi nơi. Chân được bó lại bằng những mảnh vải quần áo cũ xé ra, dính đầy bụi đất và những vết máu, vết mủ.
Chỉ có một phần mặt mũi và hai tay của ông lộ ra, các phần thân thể khác không thấy được. Và chỉ có vậy thôi, tôi cũng nhận ra rằng không phải ông mang chứng lở lói bình thường mà tôi đã từng thấy, từng biết. Mũi ông đỏ ửng, bóng; hai má cũng vậy, cộng thêm một số vết lở lói; lông mi ở mắt đã rụng. Hai bàn tay cũng có những vết lở tấy, nhưng các ngón tay đã co lại, móng tay nhiều ngón đã bị khuyết lại hay mất hết : ông bị chứng phong hủi (leprosy) ở thời kỳ trầm trọng. Vì không có thuốc và vì điều kiện vệ sinh không thể có được trong tù nên bệnh của ông phát triển rất nhanh. Dó là lý do tại sao chỉ mới đi tù trong vòng bốn năm năm ông đã trở thành người tàn phế, bị cách ly riêng biệt.
Có lẽ người ta gán cho ông chứng bệnh lở lói là để tránh sự loan truyền căn bệnh cùi trong trại giam. Vả lại ông bị "cách ly", chỉ được ra ngoài vào những giờ mọi người đã đi lao động, không còn ai trong trại, nên ít ai biết rọ Nhưng chính ông, ông biết rõ bệnh trạng của ông.
Tôi nhìn ông thật lâu, trong lòng xót xa, không biết phải nói gì, làm gì. Vị sĩ quan cao cấp chững mực với quân phục chỉnh tề trang nghiêm ngày xưa nay đã mang hình hài của một người tàn phế giống như một kẻ hành khất lở lói mà ai cũng có thể gặp ở đâu đó. Ðôi mắt tôi nói rõ sự thương cảm của tôi đối với ông. Và một lần nữa ông cười, nụ cười nhăn nhún với một chiếc răng khểnh trong môi, như ông muốn nói với tôi rằng :"Tôi chấp nhận định mệnh của tôi, nhưng tư tưởng của tôi đã vượt khỏi thân xác nhỏ nhoi tàn phế của tôi rồi. Anh đừng thương hại cho tôi."
Sau nụ cười là ánh mắt nhìn tôi sâu hơn. Trong ánh mắt đó của ông, tôi đã ghi nhận được sự thương xót của ông đối với tôi. Hình như ông đã nhìn thấy lại người sĩ quan thuộc cấp trẻ tuổi của ông ở những ngày xưa, còn độc thân, mặt còn non sữa, nhưng sáng sủa và nhanh nhẹn, đã từng lúc làm ông hài lòng, cùng từng khi khiến ông phải chỉ bảo. Ngày nay, hắn ta đã trở thành một người cằn cỗi, gầy ốm, lam lũ với áo quần chùm đụp rách rưới, má hóp, mắt thâm vì những ngày thiếu ăn, những đêm thiếu ngủ. Hơn thế nữa, hắn ta còn chưa biết phải làm gì trong cảnh tù đày và trong tương lai.
Tôi chưa biết nói gì thêm, làm gì thêm ở buổi gặp lại ông trong hoàn cảnh khốn khổ đó, thì anh bạn cùng tôi đi lãnh cơm, tìm được tôi, thấy tôi đang đứng "nói chuyện" với Ðại tá Sơn. Anh đến gọi tôi vì cơm anh đã lãnh xong để ngoài sân phạn xá.
Tôi tần ngần một phút nhưng rồi cũng phải theo anh trở lại phạn xá gánh cơm về cho anh em ăn. Chúng tôi chào từ giã ông, không thấy ông trả lờị Tôi quay đi, mang theo nỗi buồn thật lớn. Anh bạn nói với tôi :
- Ðại tá Sơn đó, ông ta bị chứng bệnh nan y, vừa bị suyển, bệnh tim, lao phổi. Ông không hề nói chuyện với ai.
Tôi trả lời ngắn : "Xếp cũ của tôi."
Suốt ngày hôm đó tôi thẫn thờ vì những ý nghĩ miên man trong đầu óc tôi. Ðêm đó cũng không thể ngủ được. Tôi suy nghĩ về ông và những ngày tù đày của chính bản thân tôi.
Quả thật, trong lần đối thoại bằng mắt ở buổi gặp lại lạ lùng này, ông đã nói với tôi thật nhiều về thân phận của ông và tôi. Tôi biết rõ ông đã vượt khỏi cái thân xác bệnh hoạn yếu đuối nhỏ nhoi của con người, dẫn phần tâm linh của ông đến một cõi an bình nào đó, như một tín đồ công giáo tin tưởng sự an bài của Ðấng Tạo Hóa về định mệnh của mình. Hơn thế nữa, trong tư tưởng, ông không chỉ còn là một người viết sử bình thường, một sĩ quan bình thường, mà đã trở thành một triết gia lớn biết cả cội nguồn của dân tộc và tổ quốc. Tâm trí ông đã đi ra ngoài thân thể ông để đến một khung trời bao la nào đó, cao rộng, hay ít nhất cũng phủ trùm trên bờ cõi VN.
Rõ ràng ông đã tìm được cho ông một lối thoát, sau khi đã trải qua đau khổ đến tột độ : thể xác nứt nẻ, nhức nhối vì bị gặm nhấm, rút tỉa bởi con máu độc hại của chứng bệnh nan y; bị bỏ đói khát lạnh lẽo, cô độc trong một nơi cách biệt đến trở thành câm nín. Bao nhiêu tháng ngày đau đớn oằn oại mà ông phải chịu đựng từng phút từng giây đó không đủ để ông trở thành một triết nhân hay sao, vả lại ông là một người thâm trầm, hiểu sâu học rộng...Dù sao thì ông cũng đã vượt thoát được đau khổ và tìm ra cho mình một con đường.
Một ngày nào thoát khỏi gông cùm CS, nếu tấm thân tàn phế của ông còn hơi thở, thì biết đâu khối óc phong phú và tĩnh đạt của ông sẽ không giúp ông trở nên bất tử trong lòng mọi người, vì những điều chứa đựng trong đó sẽ có thể cho chúng ta những hiểu biết về lịch sử VN -- trong thế hệ chúng ta -- một cách xác đáng nhất, tường tận nhất, đáng suy gẫm nhất vì sao chúng ta đã đau khổ triền miên trong cuộc chiến tranh tàn khốc dai dẳng vừa quạ Hay xa hơn nữa, biết đâu ông cũng có thể cho chúng ta một triết lý nhân sinh rút tỉa từ kinh nghiệm bản thân ông, khả dĩ giúp được nhiều người tìm ra sự an bình trong tâm hồn ở cuộc sống nhiều đau thương này.
Tôi yên tâm phần nào về ông, vì tôi biết, dù ông là kẻ chiến bại trong cuộc sống, nhưng lại là người chiến thắng chính bản thân mình.
Còn tôi, ông đã nói cho tôi biết bằng ánh mắt, là ông thương cảm cho tôi, vì ông đã biết rõ tôi đã và đang còn mù mờ, quờ quạng trong đáy ngục, trong lưu đàỵ Tôi chưa nghĩ gì cho hôm nay và cho ngày mai hơn là phải sợ lao động nặng nhọc sáng nay hay sợ bị đói lạnh chiều nàỵ Tâm trí, tư duy của tôi là một thứ bong bóng.
Tôi phải gặp lại ông, tôi phải học tấm gương của ông, phải biết nhận chịu cái đau buốt tận xương tủy, để nghiền ngẫm về lẽ sống và tìm cho mình một con đường thích hợp nhất mà bước đi.
Từ ngày đó tôi định bụng hôm nào thuận tiện tôi sẽ đi tìm ông, vì ông ở phòng "cách ly" không phải lúc nào cũng tự tiện mà dến được, bọn cán bộ cấm ngặt mọi tù nhân đến đó.
Trong mấy ngày liền, sau các buổi lao động xong về trại, tôi đi theo các bạn lãnh cơm lên phạn xá, lảng vảng đến gần căn phòng cách ly mong nhìn thấy ông để đến gặp, nhưng lần nào cũng trở về không. Rồi một buổi chiều tôi trở lại đó, từ xa tôi đã thấy ông sau xong cửa sổ, mắt đang nhìn ra xa xôi cao hơn bờ tường rào của trại trước mặt ông. Tôi muốn nhìn ông cho rõ hơn nên bước thêm mấy bước nữa rồi dừng lại. Một chập rất lâu, ánh mắt ông vẫn thế, không thay đổi hướng. Ở hướng đó, mặt trời chiều đã xuống thấp, nắng đã nhạt, mấy áng mây thật mỏng, ráng hồng, còn vơ vẩn, rồi bị gió xé nát ra. Tôi chợt thấy ông rùng mình.
Tôi tự nghĩ : Chẳng lẽ mình nhầm hay sao khi nhận xét về ông ở buổi đầu tiên. Không do dự nữa, tôi bước đến gần, đứng ngoài sân, trước hành lang, chào ông và khẻ hỏi :
- Chào Thầy, hôm nay Thầy có khoẻ hơn không ?
Ông quay lại nhìn tôi, nhẹ gật đầu nhưng không trả lời. Ðôi mắt ông lại hướng về góc trời có một bóng mây vừa tan, một thoáng như mờ đi, như nghĩ ngợi, rồi chợt sáng hẳn ra nhìn thẳng hơn vào mắt tôi.
Thôi, Thày ơi ! Tôi đã hiểu rồi. Tôi đã hiểu trong lòng Thầy nghĩ gì và Thầy muốn gì ở tôi. Lòng tôi trong một phút cảm thấy đau điếng.
Tôi có nên nói đến những điều này cho các bạn nghe hay không ? Liệu các bạn có tin rằng tôi nói bằng sự thật, bằng tấm lòng của tôi hay không ? Thôi thì tôi cứ nói.
Ông đã cãm nhận được định mệnh của ông rồi. Hơn ai hết, ông hiểu rõ tình trạng sức khoẻ của ông. Ông chỉ sợ mình như ráng mây mong manh kia, sẽ phải tan rã mất đi vội vàng. Thời gian quí báo không còn nữa đối với ông, ngọn đèn hắt hiu trong tim ông sắp tắt, nhưng ngọn lửa lớn trong óc ông, đang rực sáng, không có chỗ thoát ra. Bốn bức tường của nhà giam này thật cay nghiệt; cái hoài bão của ông, niềm ấp ủ đã hình thành trong tâm não ông cũng sẽ tan biến mà thôi. Ông không sợ bản thân ông bị tiêu hủy, ông chỉ sợ những điều đó bị tiêu diệt, tôi nghĩ như vậy.
Với ánh mắt nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi nhận ra hình như ông muốn ủy thác cho tôi một việc gì đó sau này -- khi tôi ra khỏi 4 bức tường của trại giam -- chẳng hạn như sẽ thay ông viết lên những gì mà ông muốn để lại cho những thế hệ tương lai.
Nếu quả thật điều này tôi đoán đúng, tôi cam đành chịu sự thất lễ đối với ông. Dù tôi hiểu ông, nhưng làm sao tôi có thể hiểu tường tận những gì tách bạch định hình trong tư tưởng của ông.
Ông đã nghĩ gì, ông đã biết những gì -- hẳn nhiên là phải rộng lớn và khúc chiếc -- ông muốn viết những gì, làm cách nào tôi có thể biết được. Vả lại, những thứ ấy là những điều mà ông phải phấn đấu thật cam go với bệnh tật, với chính mình bao nhiêu năm trời, chịu đựng vô vàn đau đớn tủi nhục từ thể xác đến tâm não mới có được. Nó là của riêng ông. Làm sao tôi có thể cảm nhận được hết, khi mức độ thương đau của tôi có hạn định; làm sao tôi có thể viết những điều ấy thành lời.
Sở năng của ông là viết sử. Ngay ở công việc này, nếu tôi có hiểu biết một đôi điều, thì với khả năng của tôi, tôi cũng không thể thay ông mà viết nổi hết cái cao xa rộng lớn của ông, cái sâu sắc phong phú của ông, cái chiết trung tinh túy của ông, cái kinh nghiệm dồi dào của ông về những gì phức tạp nhất, nhiêu khê nhất, khuất lấp nhất của lịch sử ở thời đại nhiễu nhương này.
Nếu tôi cần thời gian để có được những ưu điểm trên đây như ông, thì sẽ bao lâu. Có lẽ suốt đời đến khi nhắm mắt, tôi cũng không có được.
Hôm trước tôi gọi ông bằng "Thầy" để tránh tiếng gọi bằng cấp bậc đã trở thành "không thích hợp" nữa. Hôm nay, tôi cũng gọi ông bằng chữ đó, cùng nghĩa. Xét cho cùng, tôi chưa đáng là học trò của ông trên nhiều phương diện.
Tôi đành cam chịu sự bất lực rồi.
Cái hy vọng giữ được cuộc sống của ông thật mong manh, cái hy vọng giữ sự hiểu biết trong trí não ông cũng không thể có, rồi cát bụi sẽ trở về với cát bụi mà thôi. Bỗng nhiên tôi nghe mấy giọt nước mắt lăn trên má tôi.
Ông nhìn tôi lặng lẽ thở dài rồi quay đi.
Tôi trở về phòng giam của mình với tâm trạng buồn bã, mệt mỏị Tôi muốn làm vui lòng cố nhân, muốn làm tròn bổn phận với một cấp chỉ huy tôi quí trọng, nhất là khi ông đang ở trong hoàn cảnh khốn cùng, nhưng tôi biết tôi kém tài, thiếu khả năng để khả dĩ hoàn thành sự ký ủy của ông.
Sau buổi chiều đó, lại một đêm và nhiều đêm khác nữa tôi mất ngủ.?Dù ông muốn hay không, tôi cũng thương cảm cho ông, xót xa cho ông. Niềm trắc ẩn của tôi không ngoài việc tôi biết ông cảm thấy sức khoẻ của ông đã cạn, ông biết ông sẽ không thể -- bằng cách nào đó, phổ cập được những gì đó thật hữu ích đã kết tinh trong não tủy của ông qua những tháng ngày đau khổ. Niềm hy vọng cuối cùng là ký thác những điều đó cho một ai đó có khả năng, cũng đã bị giập tắt. Sự cô đơn của ông bây giờ đã hoàn toàn, tất cả đã quay lưng lại với ông. Bên ông có lẽ chỉ còn Thượng Ðế là vị an ủi, là vị cứu tinh cuối cùng mà thôi. Con người đã không còn trong tầm mắt và niềm hy vọng của ông nữa, mãi mãi.
Sau đó không lâu, một buổi tối, bọn cán bộ trại tổ chức buổi chiếu bóng ngoài trời cho tất cả tù nhân xem ở cái sân rộng lớn giữa trại. Ðêm ấy, trời đầy trăng sáng trong sương đêm loang loáng của mùa đông. Hơn 1,000 tù nhân được xếp hàng ngồi theo đội của mình trong sân. Tuy nhiên, mọi người khi cần thiết cũng có thể tách ra đứng lên đi tiểu ở một vài nơi mà CS đã chỉ định trước. Một nơi như vậy nằm bên trong bờ tường của phạn xá .
Ðây là cơ hội may mắn cho tôị Khi phim chiếu được chừng một giờ -- phim gì đó, tôi không còn nhớ -- tôi đứng lên đi về phía ở bờ tường vào phạn xá, đến chỗ đi tiểu. Nhìn không có ai, tôi bước thêm mấy bước nữa, dừng lại. Chỗ tôi đứng chỉ còn cách căn phòng nơi ông ở không đầy 10 bước. Tôi không có ý định gặp ông, chỉ muốn nhìn thấy ông mà thôi, và tôi đã nhìn thấy. Ông đứng bên trong cửa sổ, ở đó có ánh đèn le lói hắt ra, đang nhìn lên khung trời đầy ánh trăng bàng bạc trong sương. Giờ đó cũng gần khuya, ông vẫn thức, đứng nhìn trăng, nhìn trời.
Tôi đã hiểu rõ hơn tâm sự của ông. Tôi đứng nhìn ông một lúc khá lâu, rồi sợ bị bọn cán bộ bắt gặp, tôi quay trở ra về chỗ ngồi của các bạn cùng đội và không xem gì được nữa ở những thước phim tuyên truyền còn lại.
Tôi lơ đãng ngắm nhìn những vì sao xa xa, ngắm vần trăng nhàn nhạt trên nền trời nhiều sương lành lạnh, diệu vợi, buồn man man.
Ðêm trăng là khung trời của Hàn Mặc Tử, vầng trăng và ánh trăng là thơ của Hàn Mặc Tử, không phải của ông. Ông không là một thi nhân, ông là một nhà viết sử. Trăng đã thức trong máu để Hàn Mặc Tử làm thơ và ngâm thơ. Trăng đã thức trong máu của ông, chỉ để ông thấy nỗi cô đơn của ông thấm đậm hơn mà thôi.
Hàn Mặc Tử, ở những ngày cuối cùng của cuộc đời, còn nói lên được, còn viết lên được những điều muốn nói, những điều muốn viết, trong sự yêu chiều an ủi của một người đẹp yêu ông. Ông ta thật có diễm phúc so với nhà viết sử Phạm Văn Sơn. Vị sử gia của tôi trong những giờ phút cuối cùng này còn có ai đâụ Ông bị cách ly thân thể, bị chối bỏ tình cảm, tuyệt nguồn tâm sự đến trơ trọi cả linh hồn.
Ngày xưa, vua Hezekiah của Do Thái -- trong Thánh Kinh -- hơn mười mấy năm bị phong hủi cũng không cô đơn bằng ông, vì ông vua này vẫn sống trong hoàng cung lộng lẫy với hằng trăm cung tần mỹ nữ hầu hạ.
Có lẽ chỉ một người chịu sự cô đơn như ông là một vị bác sĩ nào đó -- một nhân vật có thật -- trong tác phẩm "Kẻ Ðộc Hành" (Man Who Walks Alone) của một nhà văn Mỹ, tôi đã quên tên, đã hy sinh suốt quãng đời đẹp đẽ nhất của mình, tình nguyện đến một phương trời xa, phục vụ một trại hủi để chữa trị bệnh nhân bằng sự hiểu biết và lòng tận tâm của mình, cho đến một ngày chính ông ta bị truyền nhiễm chứng bệnh nan y này. Khi trở lại quê hương, ông lại bị hất hủi, bị bỏ quên, cô đơn như một kẻ độc hành trong cõi đời thường như hoang vắng. Dù sao vị bác sĩ đó cũng đã làm tròn thiên chức của mình, đã hưởng được sự tự do để suy gẫm về cái triết lý của cuộc sống.
Còn ông, nhà viết sử của chúng ta, ông đã cô đơn bốn bề ở kiếp con người; loài người dưới đất quên lửng ông, trăng sao trên trời xa lạ với ông. Ông là kẻ cô đơn nhất trong loài người, ở những giờ phút sau cùng.
Ðêm trăng này hay bao nhiêu đêm trăng nữa sẽ cho ông nhìn thấy gì, hay ông chỉ nhìn thấy sự hoang mạc đến tận cùng của cuộc đời ông trong những ngày còn lại. Hay hơn thế nữa, ông sẽ nhìn thấy nỗi tuyệt vọng vừa nhen nhúm trong tâm sự ông, về sự không thể làm tròn thiên chức của mình, sẽ lớn dần lên, sẽ còn đày đọa ông không biết bao lâu nữa. Ðêm không ngủ dưới trăng kia có ích lợi gì cho ông không...
Thì ra tâm sự con người thật phức tạp trước những sự kiện tưởng chừng như vô tình nhất, giản dị nhất.
Lần đầu tiên sau khi gặp lại ông, tôi tưởng ông đã yên tâm vì đã tìm cho mình được một con đường, một chân lý, đến độ khi nhìn ông tôi cũng cảm thấy yên tâm. Hôm nay, bởi những sự kiện mới mẻ tưởng như vô tình, tôi mới biết ông vẫn còn ưu tư khoắc khoải, nên lòng dạ tôi xốn xang vô cùng.
Tôi đã ngu muội và thật thà ở buổi chiều hôm trước, vì vô ý thức, tôi đã đẩy tình trạng cô đơn của ông đến cao độ nhất, bởi sự phản ứng tự nhiên, chân tình bằng mấy giọt nước mắt dại khờ, non nớt, rơi không đúng chỗ, đúng lúc.
Một giọt nước đã làm tràn miệng bát.
Ðáng lẽ tôi phải tế nhị giữ nó lại, tìm cách an ủi ông. Biết đâu niềm hy vọng vẫn còn là ngọn lửa, tuy nhỏ nhoi, cũng sưởi ấm lòng ông để ông cảm thấy mình vẫn còn người tri kỷ, không cô đơn, còn có ý nghĩa với mọi người. Biết đâu như vậy sẽ làm cho ông yên tâm hơn. Dù cái chết có đến với ông, bằng cách nào đi nữa, ông cũng cảm thấy ấm cúng trong tâm hồn.
Niềm trắc ẩn xốn xang này đã trở thành sự hối hận triền miên trong tôi suốt 15 năm qua, chưa có dịp bộc lộ cùng ai. Tôi thật khổ tâm.
Lúc đó, tôi thầm cầu nguyện Thượng Dế xui khiến cho những người CS thấy rõ chứng bệnh vô cùng hiểm nghèo, nguy ngập của ông mà tha cho ông ta, cho ông được trở về với gia đình. Ðó là con đường duy nhất cứu được ông, cứu được cái hoài bão mà ông từng ôm ấp bao nhiêu năm qua.
Tôi đã thất vọng, ý trời không phải là ý người. CS chỉ hủy diệt những nhân tài đối lập, không bao giờ nhẹ tay với một ai.
Rồi việc gì phải đến, đã đến.
Một ngày, chưa hết mùa đông, đầu năm 1980 (tôi không nhớ chính xác ngày tháng), buổi sáng sớm lất phất một cơn mưa phùn nhỏ, trời lạnh và đục, người ta đã đánh kẻng tập hợp tù nhân các đội ra ngoài sân để tuần tự cho xuất trại đi lao động như thường lê Bấy giờ tôi ở trong đội cưa xẻ gỗ súc. Ðội chúng tôi ra hiện trường làm việc -- là hai dãy nhà lợp tranh, chỉ cách cổng trại vài mươi bước -- trong vòng mấy phút. Mỗi cặp cưa gồm 2 người, tự động vào giàn cưa của mình và xẻ những thân gỗ lớn thành những tấm ván dày hoặc mỏng dùng để đóng bàn ghế, vách nhà, sàn nằm trong trại, hay đóng hòm chôn tù nhân, chết bởi nhiều cách, đa số là chết vì bệnh và kiệt sức.
Chừng chín giờ rưởi hay mười giờ hôm đó, tôi đến nhận phần sắn phụ trội (đội cưa xẻ thuộc loại lao động nặng, có thêm một phần ăn phụ trội ở giờ giải lao, nhưng bất thường) vừa định quay về giàn cưa mình thì anh bạn hôm trước đi lãnh cơm với tôi, hôm nay vừa đi lãnh sắn ở nhà bếp, nói nhỏ vào tay tôi :
- Tin buồn !
Tin buồn có nghĩa là trong anh em của chúng tôi có thêm một người vĩnh viễn nằm xuống, cũng có nghĩa là đội của chúng tôi phải xẻ thêm những tấm ván để đóng chiếc hòm tạm bợ bọc xác bạn bè, một điều không ai muốn, nhưng ai cũng tình nguyện làm để biểu lộ lòng thương xót với người đã ra đi. Biết đâu rồi ngày nào cũng đến lượt mình. Tâm lý trái ngược đa đoan là thế đó.
Tôi nghe anh nói xong, định hỏi xem là ai, nhưng anh đã bảo tôi :
- Ði đi !
Trở về chỗ, vừa ngồi xuống đã thấy anh theo đến, ngồi sát bên, nói vừa đủ cho tôi nghe :
- Ðại tá Sơn, "xếp" của anh, chết rồi !
Tôi sững sờ, tưởng chừng như ai tạt một gáo nước lạnh vào mặt, hỏi lại anh :
- Anh nói chết rồi, tại sao, hồi nào ?
Anh buồn bã thuật lại câu chuyện anh vừa nghe ở nhà bếp :
- Sáng nay, sau khi các đội đã xuất trại hết, "tụi nó" ra lệnh cho ông đem giỏ ra sân mang than đá vào bếp trại như những ngày trước. Không biết ông bưng vác đến giỏ thứ mấy thì kiệt sức, hộc máu tươi, ngất xỉu bất tỉnh. Khi chúng hay được cho mang ông lên bệnh xá thì mấy phút sau ông mất; cả người nhầy nhụa máu me, hình như bao nhiêu máu mủ trong các phần thân thể lở lói tuôn tràn ra hết...
Anh nói tiếp :
- Giờ này có lẽ họ đã đem ông xuống nhà xác rồi !
Anh lặng lẽ bỏ đi, không nói thêm gì nữa.
Tôi như một kẻ mất hồn. Tôi đã hiểu.
Từ lâu nay, thỉnh thoảng chúng tôi thấy một chiếc xe tải chở vào trại loại than đá vụn vo thành viên tròn to như những trái "poids" lớn, dùng làm chất đốt ở bếp. Mỗi lần như vậy, họ đổ than đá ở phần sân ngoài bức tường, trước cửa vào nhà bếp. Bọn cán bộ ra lệnh cho ông hằng ngày dần dà chuyển hết những đống than đá đó vào bếp, trừ trường hợp trời mưa, phải chuyển gấp chúng cho người phụ. Như vậy, một người bệnh trầm kha như ông vẫn bị chúng vắt sức lao động đến giọt máu cuối cùng. Hôm nay ông đã ngả xuống như trăm ngàn nạn nhân khác dưới chủ trương giết người siêu dã man này trong các trại giam CS.
Sau buổi giải lao, tất cả anh em trong đội cưa xẻ đều biết về cái chết thảm thương của ông.
Ông đã mất rồi về cõi thiên đường đã mang theo sự chịu đựng và hiểu biết của ông, vốn dĩ không hề tưởng là đã có trong con người mang nhục thể. Cái gì của Thượng Ðế?trả về cho Thượng Ðế.
Người ta ra lệnh xẻ gỗ đóng quan tài cho ông.
Tôi nhận việc ấy với những giọt nước mắt chảy dài trên má. Chỉ c̣n một chút đáp đền này thôi, hỡi cố nhân ơi.
Cái chết của Sử Gia Phạm Văn Sơn (bài 2)
Hổ Vạn Quang
SGN 14/3/97Chúng tôi từ nhiều trại tập trung ở Hoàng Liên Sơn chuyển về, gồm đủ các thành phần "nặng kư" khác nhau, nói chung được CS ghép vào loại ác ôn như Tuyên úy, T́nh báo ở trong các trại khắc nghiệt nhất tại miền Bắc, trong đó K1 được liệt vào loại dă man hàng đầu trên toàn quốc.
Tháng 10/1978, chúng tôi được di tản về trại tập trung quỷ tha ma bắt này trước khi Trung Quốc dạy cho CS Bắc Việt bài học lần thứ nhất (Xuân 1979), trong đó có Đại tá Phạm Văn Sơn, tác giả của bộ Quân sử thời VNCH cũng như nhiều sách sử có giá trị, trong đó cuốn Việt Sử Toàn Thư được nhiều người có học biết đến*.
Ban đầu, chúng tôi có thể chưa biết mặt nhau, nhưng CS th́ rơ lư lịch từng người. Họ phân chia chúng tôi thành nhiều đội theo "tội trạng" để nhốt chung 1 nhà. Nói lên danh từ "nhà" như thế để gọi là cho đúng với danh xưng văn hóa mới XHCN, chứ thực ra đó là những pḥng giam tập thể, chung quanh có 4 bức tường kiên cố, tại các cửa sổ thông hơi được cài chặt bằng những song sắt ngang dọc có đường kính chừng 18mm, bên trong 2 dăy dài có 2 tầng sạp, chứa khoảng 200 người, mỗi người có bề ngang để nằm là 4 tấc, tù nhân phải nằm nghiêng và trở đầu ngược nhau.
Lúc đầu th́ anh Sơn cũng như các anh em khác ở chung trong đội lao động. Chừng nửa tháng sau, không hiểu t́nh h́nh thế nào mà anh cùng Cha Thịnh (Đại tá Giám đốc Nha Tuyên úy Công giáo), Mục sư Kỳ (Đại tá Giám đốc Nha Tuyên úy Tin lành) và 1 người khác nữa tôi quên tên bị đưa vào pḥng "cách ly". CS nói rằng để tránh "lây lan" cho các "cải tạo viên" khác. Mục sư Kỳ bị vàng da, Cha Thịnh bệnh trổ đồi mồi vùng môi và cằm, Đại tá Sơn cũng bi bịnh này nhưng nặng hơn (khắp cả tay chân mặt mày), bọn cai tù cho đây là bệnh "phong cùi".
Theo tôi th́ đó chỉ là lư do trong trăm ngàn lư do mà CS áp dụng nhằm ngăn cách những người nguy hiểm nhất trong tập thể anh em chúng tôi, v́ sau khi gom 4 vị đó vào với nhau rồi, họ thấy việc làm quá trơ trẽn nên mới đưa thêm 1 Thiếu úy ngành Quân Báo c̣n trẻ, bị mụn nhọt làm thối ngón út của bàn chân trái, vào ở chung để lư giải danh xưng "bệnh cùi" cho hợp lư.
Pḥng "cách ly" bây giờ gồm 5 người sinh hoạt chung với nhau, không được phép ra ngoài, đến giờ cơm nước, tù h́nh sự mang đến, không cho bất cứ tù chính trị nào lai văng lại gần, mặc dù pḥng cách ly này không phải là pḥng kỷ luật (Pḥng kỷ luật là 1 cái hầm nổi, xây gạch kiên cố, chật hẹp, chứa tối đa 2 người, thiếu ánh sáng, có hệ thống cùm chân bằng các khoan sắt h́nh móng ngựa).
Điều rơ ràng nhất mà anh em chúng tôi biết được là CS không thể để các vị lănh đạo tinh thần này sống đời tù b́nh thường, hoà nhịp vào cùng anh em khác, mà dứt khoát cần phải tách biệt ra. Do đó, ngành Tâm lư chiến của VNCH cũng đă làm cho CS hoảng sợ, nhất là vấn đề tác động tinh thần trong các anh em trong tù. Đại tá Phạm Văn Sơn là tác giả của 1 bộ quân sử, ông có tŕnh độ hiểu biết cao về lịch sử, 1 bộ môn mà CS cho là quan trọng vào bật nhất của bất cứ thời đại chính trị nàọ Sau này khi ra khỏi tù, tôi có đọc những sách sử do Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng viết, họ đánh giá rất cao về công tŕnh nghiên cứu bộ Quân sử thời VNCH.
Ngày 2 buổi, trong khi anh em chúng tôi làm kiếp lao động khổ sai, th́ trong pḥng "cách ly", 4 vị "bự" này phải viết kiểm điểm, nhất là Đại tá Phạm Văn Sơn, ông phải trả lời hết mọi câu hỏi mà CS (cán bộ trung ương từ Hà Nội về làm việc) đặt ra, gọi là lấy khẩu cung, nhưng thực chất họ có dụng ư muốn t́m hiểu nhằm học hỏi thêm.
Thường thường cứ mỗi 3 tháng có chừng vài ba ngày học tập gọi là "bồi dưỡng chính trị" là anh em chúng tôi đă thầm nói với nhau : "Lại phét nữa rồi". Tôi nhớ rơ, mỗi lần "được" lên giảng đường để nghe "cán bộ bồi dưỡng chính trị" là mỗi lần chúng tôi thấy khoẻ hơn, v́ khỏi lên rừng, ra rẫy, xuống ruộng để phá nương, đào hốc sắn, thay trâu kéo cày bừa... Và c̣n vui hơn nữa là được phát biểu cảm nghĩ về nội dung bài học. Chính những lúc phát biểu như thế này, chúng tôi mới có dịp biết được sự thiếu hiểu biết của họ.
Trong anh em chúng tôi, có người v́ muốn xong chuyện qua loa cho xong nên khi được phát biểu đă làm đúng như sách vở, nghĩa là làm đúng theo nội quy thứ tự :
- Xác định tư tưởng (đứng về phía cách mạng, an tâm tin tưởng vào đường lối chính sách, v.v...).
- Học tập tốt, lao động tốt, phấn đấu đạt chỉ tiêu từng ngày từng giờ.
- Chấp hành nội quy không bao giờ sai phạm mặc dầu chỉ là 1 lỗi nhỏ.
- Chuyển biến : đă làm được những ǵ trong học tập cải tạo vừa qua, phát huy những mặt tốt, khắc phục và luôn luôn phấn đấu vượt qua những tồn tại, biết kiểm điểm bản thân ḿnh và bạn cùng nhau giúp đỡ cải tốt...
Cũng có những anh em chúng ta chơi trội hơn trong mô h́nh trên trong mục liên hệ bản thân, mục đích duy nhất là vạch trần sự thiếu hiểu biết của cấp cán bộ giảng dạy chính trị CS bằng cách đặt ra những chuyện nghe thật hấp dẫn của thời VNCH, như trường hợp bạn Phan Lạc Phúc (tức Kư giả Lô Răng; hiện ở Úc) phát biểu trong buổi học tập 8 điều áp dụng cho "tù hàng binh" :"Tôi có đọc 1 bài b́nh luận ở báo chí phương Tây hồi trước giải phóng, th́ việc chia nhau quyền lănh đạo thời "Mỹ - Ngụy" có thể phân chia làm 3 giai đoạn, giai đoạn Chí Sĩ lănh đạo, giai đoạn Tướng Sĩ và giai đoạn cuối là giai đoạn Tiến Sĩ...". 1 sự ngạc nhiên cho toàn hội trường, phe ta th́ biết ngay anh chàng đang dùng đường quyền "duy vật sử quan" để "logic" cách phịa chuyện của ḿnh. Riêng các tên cán bộ CS há hốc mồm nh́n bạn Phúc gật đầu. Tối hôm đó, bạn Phúc ta 1 phen hết hồn v́ có bọn mũ cối đến hỏi thăm, Phúc đổi sợ thành vui, háy mắt với anh em.
1 chuyện khác nữa, là chuyện của bạn Nguyn Văn Diệp, khi 1 tên CS cố hỏi anh em về triết học Mác, đó là từ "tiếp thu" đến "nhận thức chuyển biến tốt" phải có yếu tố ǵ làm cầu nối ? Diệp trả lời rất tỉnh : Thưa cán bộ đó là "t́nh cảm". Tên CS này khen rối rít v́ anh ta không ngờ tŕnh độ của sĩ quan "ngụy" lại cao đến thế, nhưng anh có biết đâu về cách chơi chữ "t́nh cảm" của anh Diệp. Trái ngược lại, đối với Đại tá Phạm Văn Sơn, anh không bao giờ được phát biểu bất cứ 1 điều ǵ để cho mọi ngươi cùng nghe, có chăng chỉ xảy ra riêng tư cho 1 tên CS làm nhiệm vụ mà thôi.
Cuộc sống của 5 người cùng pḥng cách ly vẫn ngày tháng trôi đều, cơm 9kg 1 tháng, chia làm 2 bữa cho 1 ngày. Trên thực tế, tiêu chuẩn 9kg đă không đảm bảo, mà lại c̣n có phải gạo đâu, chỉ toàn sắn khô và bobo, tuổi già mà nhắm mắt nuốt nó th́ sẽ bị rách cuống cổ ngay, chưa nói khi chúng rớt vào dạ dày sẽ bị thủng...
Trưa, tối, bọn h́nh sự đem cơm tới, mỗi sáng th́ ghé xem bên trong có ai bị việc ǵ không, tiện thể lấy phân để đem nó ra bón rau cải cho khu lao động, thỉnh thoảng năm ba ngày tên cán bộ trực trại mở cửa cho ra đi tắm hay thấy ánh sáng 1 vài giờ, rồi lại tiếp tục vào chuồng. Cha Thịnh, Mục sư Kỳ th́ trầm ngâm hơn, lâu lâu thở dài cho đoạn ngày tháng ngục tù, riêng Đại tá Sơn th́ viết liên tục, những bài viết của ông được bọn CS cất giữ kỹ, không một ai được xem, ngay cả những người cùng buồng.
Mấy tháng trôi qua, 1 hôm cán bộ CS phát hiện trong bài viết về lịch sử, khi so sánh 2 chế độ "tù" thời VNCH và thời XHCN, họ cho đó là 1 việc làm "đại phản động hay cực kỳ phản động". Do đó, Ban Giám thị trại Tân Lập "đặc biệt chiếu cố" cho anh Sơn vào ngay hầm biệt giam tại K1. Tất cả anh em chúng tôi khi vi phạm điều ǵ đều bị gọi tên ra trước sân có anh em cùng tù chứng kiến, sau đó mới đem giam vào pḥng kỷ luật. Riêng trường hợp anh Sơn th́ quá đặc biệt, ngay cả Cha Thịnh và Mục sư Kỳ cũng không biết nốt. 2 ông khi gặp tôi chỉ nói rằng : Họ chuyển ảnh đi đâu mất rồi, v́ có đem theo hết tất cả đồ dùng cá nhân. Chính như ngay tôi lúc đầu cũng không thể biết, mặc dầu tôi được thay mặt anh em làm trong "ban thi đua" phía bên tù chính trị. Lúc đầu thi đua chỉ gồm toàn tù h́nh sự, họ đa số phạm những tội như cướp bốc, giết người. Mọi sự đối xử của họ đối với chúng tôi mang tính dă man, vô học, gây nhiều phẫn nộ, nên gần 7 tháng sau, K1 Tân Lập mới cho chỉ có 2 người được lên lo việc cho phía tù chính trị, nhưng trưởng ban thi đua vẫn là tên Nhàn "đâm thuê, chém mướn, lừa đảo, cờ bạc". Tên này biết rơ mọi việc của Đại tá Phạm Văn Sơn, v́ lỡ lầm rỉ hơi nên cá nhân tôi mới biết được.
Đại tá Sơn từ khi bị biệt giam không chịu ăn uống. Chừng 4 ngày sau, tôi giả bộ đi ngang qua khu cấm này gọi là coi xem có vấn đề ǵ cho an ninh trại hay không (tôi có báo cho tên cán bộ trực trại biết; tên này c̣n nói : anh phải cẩn thận chứ "tên Sơn" khá nguy hiểm đấy nhé), cũng từ câu nói của tên này, tôi mới xác quyết rằng Đại tá Phạm Văn Sơn đang bị kỷ luật. Tôi dần dà cứ như bộ quan sát phía bên ngoài các pḥng kỷ luật, nhất là ở các lỗ có song sắt và lấy tay giật giật thử có c̣n chắc hay không, cái nào bị mục cần thay để có cớ báo lại cho tên trực trại, hoặc t́nh h́nh có ai "quan hệ" với những người bị kỷ luật (đa số là bọn h́nh sự) hay không.
Nh́n quanh không thấy ai, tôi nói nhẹ vọng vào :
- Anh Sơn, em là Q. đây, anh khoẻ không ? Đói lắm không ? Em vứt vào nửa cái bánh bột nhé !
1 giọng thật yếu nhỏ vọng ra :
- Q. đó hả ? (Sở dĩ anh Sơn, Cha Thịnh, Mục sư Kỳ biết tôi v́ hồi họ chung sống tại khu cách ly, tôi là người hay đến nói chuyện, lại nữa âm thanh lời nói của tôi cũng dể nhận, nên bên trong dầu không thấy người cũng an tâm v́ "không thể trao thân lầm tướng cướp"). Tôi không cần ǵ cả, đừng vứt vào, bọn chúng đến kiểm soát th́ chết cả lũ, ráng phải lo giúp các bạn khác nữa... Hôm nay đă 4 ngày tôi nhịn ăn rồi, ít hôm nữa th́ anh sẽ rơ những việc tôi làm, anh mau đi khỏi đây đi, và từ năy giờ coi như anh chưa lại chỗ tôi, và cũng đừng nói với ai là tôi đang ở đây, nếu lỡ việc ra th́ anh sẽ bị nguy, mà ngay chính tôi cũng không thể thực hiện ư nguyện của ḿnh".
Tôi rón rén bước về phía các pḥng giam khác để gọi là đi kiểm soát tổng quát... Sau giờ xuất trại đi lao động chiều hôm ấy (Trại đang cho các đội thi đua nhau đào hốc trồng sắn), 1 tên tù h́nh sự đến nói với tôi :"Chú à, cháu đề xuất với chú chuyện này khó khăn thật đấy, nếu vỡ ra th́ cháu chết ngay, nhưng nếu không nói th́ không được". Tôi bảo ngay :"Mầy lại lèn èn chuyện ǵ đây, linh tinh nữa phải không ? Nhanh lên kẻo đến giờ tao phải phát dầu cho các buồng rồi đây !". Tên h́nh sự ngập ngừng :"Vâng ạ, vâng ạ ! Chú Sơn bảo chú cho chú ấy xin tờ giấy trắng, c̣n cháu th́ có cây bút ch́ đây để chú ấy viết cái ǵ ấy mà...". Tôi như điếc cả 2 lỗ tai, không biết nghe có lầm không, nếu nó gài ḿnh th́ ngày mai lại phải vào cùm, nếu nó thật ḷng th́ ḿnh phải làm sao đây ? Tôi giả vờ nạt nộ một hồi, xong nói tiếp :"Mầy ở đây coi văn pḥng giúp tao 1 tí nhé, đừng cho giấy tờ trên bàn gió bay lộn xộn, và không cho bất cứ ai sờ vào món ǵ cả nghe chưa ? Tao phải xuống bệnh xá một tí là về ngay đấy". Nói xong tôi đi thật vội, không dám nh́n lại cho đến khi phải trở về lấy dùi trống đánh lên 3 tiếng gọi các "trực sinh" (danh xưng dùng cho những tù nhân lo việc vệ sinh, cơm nước cho anh em tù khác ra lao động) của các pḥng đến nhận dầu về thắp trong đêm, chủ yếu để có lửa hút thuốc lào...
Và trong đêm, ánh sáng leo lét của ngọn đèn tuy làm bằng vỏ chai cưa cổ, nhưng cũng giúp được nhiều việc như rủi có 1 anh em nào đau nặng, cần cấp cứu là phải hô to :"Báo cáo cán bộ pḥng X có người đau nặng, cần cấp cứu". Hô to lên như vậy nhiều lần cho tới khi các tên cán bộ vào mở cửa th́ anh em mới có thể thấy đường để khiêng người bệnh lên trạm xá. Nếu bệnh quá nặng th́ để lại tại trạm, nếu bệnh nhẹ hơn th́ sẽ nhận 2 viên "xuyên tâm liên" và phải khiêng trả lại pḥng giam ngay. Nói là "trạm xá" cho oai thôi, chứ thật ra cũng vẫn là 1 pḥng giam bị khóa cửa cẩn thận như mọi pḥng giam tù khác. Có nhiều anh em tù chính trị được cấp cứu trong những đêm như vậy, sáng hôm sau đă phải vĩnh viển ra đi, có khi ngay tại trạm xá, đôi khi ngay tại pḥng giam chung. Nói chung, tù chính trị chết nhiều hơn tù h́nh sự. Gần 2 năm bị giam tại trại Tân Lập, tôi chưa gặp 1 trường hợp nào tù h́nh sự bị mạng vong cả.
2 ngày sau, tên cán bộ trực trại gọi tên Nhàn thi đua đưa 2 tù h́nh sự khoẻ mạnh khiêng anh Sơn xuống trạm xá (lúc đó 8g tối, các tù nhân khác đă vào chỗ ngủ). Màn đêm phủ xuống, 2g sáng hôm sau, Đại tá Sơn vĩnh biệt cơi trần. Cũng đêm hôm ấy, bọn thi đua h́nh sự phải thức suốt đêm để mang xác anh đến "nhà vĩnh biệt", 1 cái cḥi vách tô bằng đất sét nhồi với rạ do chính anh em tù chúng tôi dựng lên phía Tây đằng sau nhà giam của chính ḿnh.
Những bộ quần áo tù rách nát, vá víu chằng chịt được khoác thêm vào người anh Sơn để gọi là tạm ấm khi phải trở về ḷng đất lạnh. 8g tối hôm sau, chiếc ḥm bằng cây "vông đồng" sần sùi, tồi tàn đựng xác anh trong đó, được đặt trên xe "cải tiến", 1 loại xe do 1 người kéo, 2 người đẩy, có nơi c̣n gọi là xe "cộ" (h́nh thức giống hệt như chiếc xe dùng cho trâu, ḅ kéo nhưng nhỏ hơn), do 4 tên tù h́nh sự kéo đẩy đi. Họ chôn anh Sơn cạnh bên kia bờ suối nhỏ, phía bên này là 1 rừng sắn đang tươi tốt cao ngang lưng người, thành quả lao lao động bằng máu và mồ hôi trong những ngày khổ sai của số người c̣n sống sót lại..
Tin về cái chế của Đại tá - sử gia Phạm Văn Sơn được giữ kín. Điều này chứng tỏ đă không có sự b́nh thường như mọi lần trước khi có 1 trong những anh em chúng tôi ra đi.
Chôn cất xong, anh Sơn nằm xuống yên lặng như thế, nhưng mọi việc c̣n lại gây nhiều chấn động không phải chỉ trong anh em tù với nhau mà ngược lại có sự bàn tán lớn, thể hiện ngay trong nội bộ của bọn chỉ huy trại Tân Lập (K1). Trưởng trại tên Thùy, Thiếu tá công an, phải tức tốc đến K1 t́m hiểu sự việc. Việc xầm x́ với nhau giữa các tên CS trực trại, giáo dục, hàng quản giáo, an ninh, được những tù h́nh sự phục dịch nghe về thuật lại; thêm về phía tù nhân có tên Nhàn, Trưởng ban thi đua, cũng góp ư vào với đám CS mong t́m ra biện pháp đối phó với nhóm tù chính trị chúng tôi. Nội dung vấn đề giải quyết là bức thư viết bằng bút ch́ trên 1 trang giấy "tự túc" (giấy màu vàng ố do tên h́nh sự tự ư lấy tại pḥng thi đua mà tôi nói trong trường hợp nêu trên; dĩ nhiên việc này chỉ có tôi và tên tù h́nh sự ấy biết mà thôi, nhưng bảo tôi là người cung cấp giấy th́ không thể có bằng chứng được).
Sau biến cố này, bộ mặt sinh hoạt tù khác hẳn, kỷ luật nghiêm nhặt hơn. Về phía ban thi đua được tăng cường thêm 2 người tù chính trị làm trật tự, các đội trưởng phải chịu trách nhiệm hết mọi hành vi của đội viên ḿnh trong mọi nhất cử nhất động; ăn uống th́ rơ ràng hơn (v́ trước đó tên cán bộ lo về phần bếp núc của anh em tù, đă trừ quá nhiều vào sự hao hụt bằng cách tính toán lương thực thực phẩm hàng tháng ! Tên này đă bị thay thế bằng 1 tên khác).
Bên ngoài tuy phải áp dụng h́nh thức lao động khổ sai như cũ, nhưng bên trong bọn CS đă ngầm bảo nhau cần nhẹ tay hơn. Trước đó, việc nấu nướng riêng tư không cho phép, nay th́ có lệnh mỗi tù nhân vào sáng Chủ nhật có thể xuống bếp trại để hâm lại những thức ăn riêng, nhưng trong đội phải biết chia nhau giờ giấc tránh gây ồn ào xáo trộn.
Mọi sự thay đổi này, chính tôi đă nhận thấy và biết được ngay "trong ḷng địch" nhờ vào sự ra đi vĩnh vin của anh Sơn.
Anh Sơn vào nhà kỷ luật v́ viết bài so sánh 2 chế độ tù !
Anh Sơn tuyệt thực trong nhà kỷ luật và chịu chết; 1 việc làm can đảm đâu khác ǵ anh hùng Nguyn Tri Phương xưa : Thà nhịn đói chịu đau mà chết chứ không bao giờ khuất phục giặc Pháp. Với 1 lá thư gởi cho Đảng và Nhà nước XHCN nhờ trại Tân Lập chuyển, nội dung hoàn toàn được bọn CS giữ bí mật, nhưng tên Nhàn lỡ lời v́ bị sập vào bẫy moi tin do tôi gài. Phương pháp này chính bản thân tôi đă học được khi c̣n là người mới vào nghề. Với thời gian 17-18 năm trôi qua, tôi chỉ nhớ đại khái : "Xin các ông hăy xem xét lại cách đối xử với chúng tôi, những h́nh thức dă man như vừa qua hoàn toàn không có lợi mà ngược lại rồi đây trong lịch sử phải ghi thêm vào đấy vết ô nhục măi ngàn đời sau cho dân tộc VN..." (Thực ra câu này, tôi chỉ viết dựa theo ư chính của tên Nhàn, c̣n nguyên văn th́ không cách nào với khả năng cá nhân tôi có thể xem được).
Anh Sơn đă chấp nhận cái chết để cho anh em chúng tôi sống sót. Đây là điều đă được chứng minh quá rơ ràng ngay trong những ngày sau đó...
Viết bài này với ước mong có thể thay mặt cho các anh em cùng sống chung với Đại tá - sử gia Phạm Văn Sơn tại trại K1 Tân Lập, xin được thắp nén nhang vái linh hồn ông được siêu thoát.
Hồ Văn Quang, 1/5/97
Không Quên Bạn Tù
Không Quên Ðồng Bào Ðau Khổ
Tác giả: NGHĨA ÂN - Tŕnh bày: Ngô Nhật Tùng - Trích tuần báo KHỎE ĐẸP
Lời giới thiệu: Người viết bài nầy là một Quân nhân phục vụ trong ngành An ninh Quân đội thuộc Tiểu khu Hậu Nghĩa từ những ngày đầu thành lập Tỉnh nầy năm 1964. Anh lấy bút hiệu là Nghĩa Ân, tên ghép lại của hai anh Ngô Đ́nh Nghĩa, Trưởng ty An ninh Quân đội Tỉnh Hậu Nghĩa và của anh Chuẩn úy Ân, thuộc Ty ANQĐ / HN, hai người đă hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Cộng sản Bắc Việt xâm lăng mà tác giả đặc biệt quư trọng.
Cái chết kiêu hùng của Chuẩn úy Phần cùng với cái chết "da ngựa bọc thây" của bao nhiêu anh chị em Quân nhân trẻ khác của QLVNCH "không chịu đầu hàng Cộng sản" là tiếng nói bất khuất của Miền Nam tự do để làm cho những kẻ hèn nhát phải cúi đầu trong nhục nhă và Cộng sản phải thất bại ê chề trong các chiến dịch tuyên truyền, huênh hoang rằng "toàn thể Miền Nam đă thần phục chúng".
Trước ngày Trung sĩ Phần thuộc Đại đội CTCT/ Tiểu khu lên đường ra Đồng Đế học khóa Sĩ quan Đặc biệt, tác giả bài nầy và Tr/sĩ Phần, tuy có quen biết nhau (v́ Đại đội CTCT/TK nằm gần Ty ANQĐ/TK) nhưng hai người không mấy thân nhau. Khi tốt nghiệp Sĩ quan, Chuẩn úy Nguyễn Văn Phần được đưa về Tiểu đoàn 327 (Thiếu tá Tôn Thất Trân) / Tiểu khu Hậu Nghĩa. Sau ngày 30/4/75, tác giả bị VC nhốt chung với Chuẩn úy Phần tại nhà tù Long An... và có dịp gặp lại người bạn cũ "tử tù Nguyễn Văn Phần".
Dưới đây, tác giả đă nhớ lại...
Duy Việt Nguyễn Vũ Khương
Chuẩn úy Nguyễn Văn Phần, trước khi đi học khóa Sĩ quan Bộ binh ở Đồng Đế (Nha Trang), là một Quân nhân ngành Chiến Tranh Chánh Trị xuất thân từ Trung tâm Huấn luyện Cán bộ CTCT - Trại Nguyễn Trăi thuộc Biệt khu Thủ đô -. Khi đi học về, anh được đưa về Tiểu đoàn 327 Địa phương quân Tiểu khu Hậu Nghĩa của Thiếu tá Tôn Thất Trân, có nhiệm vụ chận không cho bọn VC từ mật khu "Rừng tràm Bà Vụ" (trước đây là đồn điền Lư Văn Mạnh) được ra liên lạc tiếp xúc với các làng xóm ở chung quanh. Ai ở Đức Ḥa cũng biết đến mật khu nầy, nằm ở phía Tây Nam của lănh thổ của Chi khu Đức Ḥa (một phần ăn sang lănh thổ Chi khu Thủ Thừa thuộc Long An), bên này bờ sông Vàm Cỏ Đông. Trung đội của Chuẩn úy Phần làm tiền trạm, nằm gần bờ rừng tràm của mật khu...
Sau ngày 30/4/75, tháng 8/75, tôi bị bắt đưa về nhốt ở khám Long An cùng với các bạn trong ngành ANQĐ. Khi cán bộ nhà tù khóa cửa lại và đi khỏi, nhiều anh em ở Tiểu khu Hậu Nghĩa chạy lại vồn vă, tay bắt mặt mừng, thăm hỏi tôi đủ điều đủ chuyện... trong khi tôi không biết ǵ hơn các ảnh. Tôi được các ảnh đưa lại "tŕnh diện" trưởng pḥng, một cán bộ VC chiêu hồi, các ảnh giới thiệu trước với tôi là "đối xử tốt với anh em ḿnh". Tôi được chỉ chỗ nằm (?) "dành đặc biệt cho những người mới đến" (chỗ gần cầu tiêu). Ngồi tại chỗ, cạnh cái giỏ lát đi chợ đựng hai bộ đồ cũ..., tôi bắt đầu nh́n chung quanh. Pḥng bề sâu 4 thước, dài 5 thước, nhốt 26 người già có trẻ có. "Làm sao nằm?" Pḥng ngó ra sân xi măng bằng một cánh cửa song sắt rộng khoảng 6 tấc. "Làm sao đủ không khí cho bao nhiêu người thở?" Nhưng, đă là tù th́ làm ǵ c̣n quyền có ư kiến?
Tôi vào tù được vài ngày th́ một buổi chiều nọ, có nhiều tiếng ồn ào ngoài sân và cánh cửa pḥng tôi kêu lẻng kẻng, anh VC cai ngục mở khóa bước vào:
- Các anh ở góc kia dời đi chỗ khác. Chỗ nầy sẽ để tạm cho 3 anh tù "tử tội". Cấm mọi người tiếp xúc với các anh nầy! Vi phạm điều cấm nầy sẽ bị những biện pháp kỷ luật nặng nhất!
Các người ở góc pḥng được chỉ, ríu ríu tuân hành và dọn đi trong nháy mắt.
Tụi VC từ ngoài sân trước lôi vào 3 người, tay chân xiềng bằng dây dừa và bằng xích xe đạp, liệng vào góc. Trước khi đi ra, bọn VC tháo dây xích cột tay các "tử tù" trong khi tên "xếp" lên giọng huênh hoang, nào là về "đạo đức cách mạng", nào là "đại nhân đại nghĩa", nào là "đường lối trước sau như một"... Tức khí, một trong 3 anh "tử tù" la to:
- "Bọn ăn cướp giết người", tụi bay mà dám nói đến đạo đức sao?
Tên "xếp" VC bị cắt ngang, đưa mắt ra lệnh cho các tay VC đàn em. Bọn này nhảy xổ lại lôi anh "tử tù" ấy ra ngoài, khóa đóng cửa pḥng lại. Đem người "tử tù" đi đâu, không ai biết! Tôi hỏi anh bạn cùng đơn vị ANQĐ với tôi đang ngồi cạnh:
- Chúng đem đi đâu?
Thay v́ trả lời, ông bạn tôi chỉ khẽ nói:
- Đừng hỏi! Tụi ăngten nhiều lắm đó!
Một bầu không khí nghi kỵ, người nầy sợ người kia... Chúng tôi cảm thấy ḿnh trở nên hèn... Sáng hôm sau, bọn VC khiêng người "tử tù" trở lại pḥng. Cửa vừa đóng, tôi nh́n lại góc pḥng tụi VC cấm. Một dáng người quen quen. Tôi hỏi anh bạn bên cạnh:
- Ai mà thấy có vẻ quen quá vậy?
- Chuẩn úy Phần, Tiểu đoàn Thiếu tá Trân đó!
Tôi kêu trời và định chạy lại th́ bị anh bạn níu lại:
- Khoan vội! Đợi chút nữa thằng Tam đi xuống bếp để đem cơm cho tù rồi hăy nói chuyện.
- Thằng Tam nào?
- Thằng đứng ở cửa ḱa! Chiêu hồi. Nó là chúa ăngten ở trong pḥng. Nó mà báo cáo anh có liên hệ với "tử tù" th́ đ̣n nát xương.
- Sao tôi nghe "tử tù" nhốt xà lim mà?
- Đúng vậy! Các "pḥng tập thể" dành cho tội nhẹ và tội "chưa đủ bằng chứng". Tội nặng và "tử tù" th́ nhốt ở dăy xà lim đang cất. Có lẽ dăy xà lim chưa cất xong nên chúng đem nhốt ở đây đỡ vài ngày.
Đợi thằng Tam ngó ra ngoài, tôi vội đưa tay vẫy chào Chuẩn úy Phần. Đến khoảng gần trưa, cán bộ VC coi nhà tù đến mở cửa cho thằng Tam ra ngoài xuống bếp đem phát cơm cho tù. Anh bạn kề tôi ra dấu. Tôi đến gần Chuẩn úy Phần. Bắt tay. Nh́n nhau trong im lặng. Chuẩn úy Phần mặt mày sưng vù, đầy vết máu, vết bầm... nhưng cặp mắt sáng quắc, vẻ đầy cương quyết nhưng không kém phần dịu dàng. Anh nh́n tôi một chập rồi cười nói:
- An ninh Quân đội vào "điều chuẩn an ninh" trước khi đem tôi ra bắn (theo thủ tục ANQĐ, mỗi khi đi làm ǵ "không thường lệ" th́ phải "điều chuẩn an ninh").
Rồi anh lại cười... và tôi cũng cười theo. Chợt tôi nhớ lại:
- Tụi nó sắp bắn anh?
- Tôi muốn bắn tụi nó nhưng không có súng nên phải để tụi nó bắn tôi! Th́ cũng là công b́nh thôi! Tôi bắn tụi nó cả chục. Tụi nó chỉ bắn một ḿnh tôi. Như vậy là ḿnh lời! Chuyện chi phải lo cho mệt!
- Thế tại sao anh bị nặng như thế nầy?
- Th́ chuyện "chơi" mà "nhứt chín nh́ bù" mà...
- Mặt mày anh sưng húp! Bị tụi nó đánh à?
- Hôm qua, tôi chửi thằng "xếp" nên bị tụi nó lôi ra pḥng "hỏi cung" trói lại cho 6 thằng "bề hội đồng". "Mềm như cái mền". Không ngồi được, nên giờ chúng mới khiêng vào.
Tôi hỏi tiếp:
- Anh làm ǵ mà "tử tù"?
...
Khoảng 15 - 16 tháng 4/75, từ bên kia sông Vàm Cỏ Đông, pháo 130 ly của VC nả vào các vị trí của Tiểu đoàn. Trên máy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng ra lệnh:
- Các đơn vị đóng ở những chỗ trống hăy rút về những nơi an toàn và báo cáo vị trí mới.
Lệnh được lập đi lập lại ba lần, rồi không nghe ǵ trong máy nữa. Bỗng máy rè rè trở lại và có tiếng của Thiếu tá:
- Non nước gọi Non nước 1... Non nước gọi Non nước 1... Anh nghe rơ không? Anh nghe rơ không?
Tôi vội chạy lại cầm ống nghe trả lời:
- Non nước 1 nghe năm trên năm! sẵn sàng nhận lệnh!
- Chỗ các anh có bị pháo không? Rút ngay vào làng (v́ dân làng nầy theo VC - giáp mật khu của VC - nên không khi nào chúng pháo vào đây)! Phải sẵn sàng chiến đấu! "Tiền pháo hậu xung" đấy!
- Non nước 1 cũng bị pháo nhưng con cái an toàn v́ có chỗ chiến đấu tốt. Sẽ chờ chúng tại đây! Đánh th́ đánh chớ sợ ǵ! Chờ hoài thét muốn điên!
- Tôi cũng muốn ở chỗ các anh! nhớ gọi khi cần yểm trợ!
Tôi xoay lại anh truyền tin:
- Mày chạy ra ngoài bờ ruộng báo tin mừng cho anh em và nói với họ sẵn sàng vũ khí để "chơi" với tụi nó! Khoảng nửa tiếng nữa tao ra coi lại. Rồi mày chạy lại bảo nhà bếp, cơm nước phải xong cho anh em khi tao xuống! Nhớ bảo thằng Trung đưa cây M16 của tao cho tao!
Ngày nào cũng ở tư thế sẵn sàng nhưng không có bóng dáng một thằng VC nào. Thiệt là chán! Phải chi tụi nó ṃ ra để ḿnh "thịt" chơi! Không có chuyện ǵ ngoài chuyện pháo kích mỗi ngày nên thường tắt máy v́ sợ hết pin.
Ngày 28-29/4/75, chờ VC pháo nhưng chúng không pháo. Mấy ngày sau cũng thế... Sáng 30/4/75 th́ nghe Dương Văn Minh ra lệnh "bỏ súng đầu hàng". Tôi hét anh giữ máy:
-Mở máy liên lạc Tiểu đoàn!
Máy hư. "Làm sao bây giờ?" Tôi chưa biết tính sao:
-Mầy ráng sửa thử!
Nhưng vô phương. Thôi đành... Tôi bảo ra tập họp anh em để tôi nói chuyện gấp:
- Có lệnh buông súng đầu hàng. Trung đội đă mất liên lạc với trên Tiểu đoàn. Ai muốn về th́ bỏ súng ra về...
- C̣n Chuẩn úy?
- Tôi chưa biết... Ở lại...
Có hơn một nửa ra về. C̣n hơn mười lăm anh em ở lại. Tôi nh́n anh em:
- Không về à ? Gia đ́nh lo sao?
- Th́ coi như ḿnh đă chết trận!
Có người hỏi:
- Bây giờ ḿnh làm ǵ đây?
Tôi chả biết và anh em cũng không ai biết... Tất cả chúng tôi chỉ có chung một ư nghĩ: "Không bỏ súng đầu hàng, tiếp tục đánh bọn chúng, có chết cũng chấp nhận". Chợt có tiếng anh Thượng sĩ Trung đội phó:
-Mấy ngày nay không thấy bóng thằng VC nào ṃ ra xóm kiếm gạo. Chắc trong đó không c̣n đứa nào. Hay ḿnh vào đó ở tạm... rồi sẽ t́m chỗ khác!
...
Vào ở trong sâu được hơn một tuần, sắp di chuyển... th́ một buổi sáng nọ, toán mấy người đi bắt cua cho một người về hỏi:
- Tụi tôi vừa đến chỗ bắt cua th́ bị một bọn tụi nhỏ trông thấy. Vậy bây giờ ḿnh phải tính sao đây? Tụi nó bị tụi tôi giữ ngoài chỗ bắt cua...
Trong anh em có ư kiến:
- Tụi nhỏ ở các xóm vùng nầy toàn là "VC con". Phải "thịt" để khỏi bị lộ bí mật, v́ ḿnh c̣n phải ở lại đây vài ba ngày để chờ các anh đi lên trên kia về (trên kia là chỗ sắp đến)!
Nhưng tôi nói:
- Chưa chắc dân chúng ở đây đă theo VC. Ở trong vùng gần mật khu th́ nghe theo VC là lẽ đương nhiên! Ḿnh không nên giết bọn trẻ con. Chúng gặp ḿnh v́ "vô t́nh" chứ không làm t́nh báo cho bọn VC. Để đề pḥng bất trắc, ḿnh nên di chuyển sâu hơn...
Anh em đồng ư. Nhưng không may cho tụi tôi. Trong bọn trẻ có đứa đi báo VC... Ngay chiều hôm đó, trong lúc tôi mới nằm định chợp mắt nghỉ mệt một chút v́ mới vác gạo, th́ một anh trong chúng tôi hớt hơ hớt hăi chạy lại đập tôi dậy:
- Chuẩn úy! Chuẩn úy! Bọn VC! Tụi nó đông lắm! Cả trăm!
- Tụi nó đang ở đâu?
Một tiếng "ầm" trả lời cho tôi.
- Cối 60 ly. Tụi nó không c̣n xa!
- Ḿnh rút về giữa sông được không? Ḿnh có giấu ghe sẵn mà!
- Tụi nó bao vây mọi phía rồi!
Vừa lúc đó th́ nhiều tiếng cối khác nổ chung quanh... Anh em chúng tôi chụp vũ khí và t́m chỗ núp đạn cối. Đạn cối từ từ đến gần..., và sau cùng liên tục chụp lên đầu chúng tôi. Chúng nó biết chỗ tụi tôi rồi. Gần như không có chỗ núp nào là trốn được cối. Trong số hơn mười anh em đă có gần hai phần chết và bị thương. Giờ th́ thấy rơ bọn chúng. Đông quá! Cối thôi nổ. Chúng tôi và tụi nó đánh nhau bằng súng M16, AK và lựu đạn. Chúng tôi chỉ c̣n mỗi một ổ kháng cự nhỏ ở chỗ tôi với một cây đại liên M60, cây phóng lựu M79 và hai cây M16. Nhưng bọn VC lên tên nào là "rớt" tên đó. Bắn đă quá. Tụi tôi "thịt" cả mấy chục. Nhưng dần dần chúng tôi hết đạn... Tôi dùng đến cây Colt... Cây Colt cũng hết đạn... C̣n lại 3 anh em... Đưa mắt nh́n nhau lắt đầu nhưng vẫn mỉm cười... Bọn VC biết chúng tôi hết đạn:
- Bỏ súng xuống! Giơ tay đầu hàng! Đứng dậy bước ra!
Chúng tôi làm y như chúng nói nhưng chúng vẫn c̣n sợ:
- Ra hết chưa?
Chúng tôi chỉ gật đầu chứ không trả lời. Bây giờ chúng mới dám đứng lên nhưng vẫn chỉa súng vào chúng tôi:
- Trong tui bây thằng nào chỉ huy?
Tụi tôi không ai trả lời... Nhưng có một anh chỉ một anh khác nằm chết ở gốc cây:
- Thượng sĩ Lên!
- Láo! Láo! Đánh chết tụi nó đi!
Bá súng tới tấp... Máu phun có ṿi... Tụi tôi bị trói bằng dây dừa, và... bây giờ, ở đây.
...
- Những vết thương trên mặt là... ?
- Tôi bị bọn chúng đánh ba lần, khi chúng bắt, khi hỏi cung lần đầu và mới chiều hôm qua!
Anh mỉm cười tiếp:
- Khi chúng hỏi cung, tôi không khai ǵ hết, kể cả tên cha me, quê quán, cấp bậc... Chỉ chửi Hồ Chí Minh là kẻ bán nước! Rằng bọn chúng chỉ là một bầy súc vật làm tôi mọi cho Nga Tàu, là sâu bọ làm người v.v..., nên chúng "bề hội đồng".
- Sau đó anh bị án "tử h́nh"?
- Đúng vậy!
- Gia đ́nh anh biết chưa?
- Cho gia đ́nh khóc có ích ǵ đâu!
...
Rồi sau đó, ngày nào anh cũng lấy tay làm loa, lớn tiếng chửi bọn Cộng sản, làm náo động không những chỉ trong toàn nhà giam, mà các nhà dân xung quanh nhà giam cũng nghe rơ mồn một. Phản ứng của bọn Cộng sản là trói hai tay của anh để anh không c̣n làm loa được nữa. Không có loa th́ anh ráng gân cổ la to hơn. Bọn VC liền áp dụng biện pháp xoa dịu và thương lượng: Nếu anh giữ im lặng và chấp hành nội quy, chúng sẽ cho anh liên lạc với gia đ́nh để thăm nuôi. Và kết quả là anh càng chửi lớn hơn... Thế là lại bị "bề hội đồng", bị nhốt vào xà lim...
Một thời gian sau, tên Hai Trọng, "xếp" nhà giam, cho tập trung tù trước nhà giam và lên lớp về "chánh sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng" (VC tự xưng là cách mạng). Các "tử tù" và các hạng "trọng tội" cũng được tập trung để "học tập". Hắn cà kê dê ngổng suốt 2 - 3 tiếng đồng hồ rồi hỏi ai có muốn nói ǵ không. Một số c̣ mồi (hầu hết là bọn chiêu hồi) giơ tay ca tụng "đường lối nhân đạo của cách mạng", "khoan hồng cho những kẻ lầm đường", "đánh kẻ chạy đi không đánh người quay lại"...
Anh Nguyễn Văn Phần thấy sôi gan, vụt đứng dậy la to:
- Tôi tên là Nguyễn Văn Phần, Binh nh́ của QLVNCH, bị các ông bắt ở rừng tràm Bà Vụ v́ anh em tôi hết đạn. Các ông đánh tôi mềm như cái mền, từ đầu đến chân. Như vậy là khoan hồng, nhân đạo sao? C̣n chúng tôi khi bị bọn con cái của các ông phát giác ở trong rừng, chúng tôi đă không nỡ giết bọn chúng để giữ bí mật... th́ đó mới thực sự là đại nhân, đại nghĩa. C̣n những ǵ các ông nói chỉ là láo khoét, bịp bợm... "Khoan hồng", "đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại"... sao lại giết những người ra tŕnh diện như Đại úy Thinh, Thiếu tá Phúc, Thiếu tá Trân...?
Các tên tù "ăngten" nhảy tới lôi anh đi (không biết đi đâu)... và sau nầy, tôi nghe người ta nói anh đă bị bắn ở sân banh Bến Lức, và cũng có người nói anh bị bắn ở Thủ Thừa...
Nhưng, điều chắc chắn là anh đă bị bọn VC bắn.
Nghĩa Ân
"Để tưởng nhớ những anh hùng của Hậu Nghĩa".
Little Sàig̣n, tháng 11/98
Người tù trại Phong Quang
Ngày 14 tháng 10, năm 1970, Lê Văn Ngưng, toán trưởng toán Biệt Kích Hadley, bị h́nh phạt nặng nhất theo quy luật của trại tù Phong Quang. Anh bị cùm cả tay chân rồi bị tống vào pḥng giam kỹ luật (xà lim). Anh Ngưng đă chờ dịp này từ bao lâu nay. Bây giờ, có thể anh sẽ t́m hiểu được chuyện ǵ đă xảy ra cho anh Biệt Kích Mai Văn Tuấn.
Trong căn pḥng giam nhỏ và dơ bẩn này, Ngưng đọc thấy danh sách của những người đă từng bị giam giữ ở đây. Hàng chử viết bằng máu trên tường đập vào mắt anh: "Mai Văn Tuấn - ngày 2 tháng Tám 1970". Đây là di bút cuối cùng của anh Tuấn, người tù Biệt Kích khổ h́nh đă chết trong pḥng giam kinh khiếp này.
Anh Ngưng bị nhốt ba mươi ngày với cả hai tay bị c̣ng, hai chân cùm bắt tréo lại, xiết chặc không cựa quậy được. Đây là h́nh phạt thông thường giành cho tất cả mọi tù nhân vi phạm kỹ luật của trại tù Phong Quang.
Sau ba mươi ngày, Thượng Sĩ Thông mở cửa pḥng giam, tháo c̣ng và cùm chân, rồi ra lệnh cho Ngưng đi ra khỏi pḥng. Sau đó Thông bắt anh Ngưng phải nhận tội anh đă vi phạm để đến nỗi phải bị giam cực h́nh này. Ngưng không chịu nhận tội và nói anh đă không làm ǵ sai quấy. Thượng Sĩ Thông nỗi cáu lên, la hét lớn tiếng và ra lệnh cai tù giam anh Ngưng trở lại vào pḥng giam địa ngục trần gian đó thêm mười lăm ngày nữa.
Lê Văn Ngưng đă không bị chết trong xà lim này, nhưng anh Mai Văn Tuấn đă kém phần may mắn.
Ở trong Nam, Tuấn là một thanh niên trẻ, đă t́nh nguyện vào làm Dân Sự Chiến Đấu cho trại Huấn Luyện Biệt Kích ở Long Thành. Sau một thời gian ngắn, năm 1967, anh t́nh nguyện xung vào lực lượng Biệt Kích nhảy toán ra Bắc. Anh được gia nhập vào các toán nhảy ngắn hạn ở miền bắc vĩ tuyến 17, vùng Mụ Gia và Đồng Hới, với nhiệm vụ thu thập tin tức t́nh báo chiến lược liên quan đến việc cộng sản Bắc Việt chuyển quân vào Nam dọc theo đường ṃn Hồ Chí Minh qua biên giới Lào. Sau rất nhiều chuyến công tác nhảy Bắc, anh đă được đề bạt lên làm trưởng toán Biệt Kích STRATA. Năm 1968, Mai Văn Tuấn sa cơ vào tay giặc.
Thoạt đầu, Tuấn và toán của anh bị giam ở trại tù Thanh Tŕ vùng ngoại ô Hà Nội. Ở đó, các người cai tù thường nói với nhau là Tuấn không được b́nh thường, có vẻ mát dây nặng. Chúng không bao giờ biết chắc được là Tuấn điên thật hay giả. Dù sao đi nữa, với tài diễn xuất giả khùng giả điên, Tuấn đă tha hồ chửi bới cộng sản và chọc cho các cai tù ở Thanh Tŕ tức giận lộn ruột, nhưng chúng không đánh đập ǵ anh nhiều v́ trong thâm tâm, chúng tin là Tuấn điên khùng thật.
Vào năm 1970, cả toán của Tuấn bị đưa qua nhà tù Phong Quang. Có thể v́ chức vụ "toán trưởng" hoặc v́ những trận "quậy" tưng bừng ở trại tù Thanh Tŕ, Tuấn bị tách ra và giam riêng ngay khi mới đến, hoàn toàn cô lập và bị cấm liên lạc với các tù nhân khác. Anh bị bỏ vào xà lim biệt giam. Không như những tù nhân biệt giam khác, Tuấn bị cùm cả hai chân, chân này cùm xích lên chân kia thật chặc, đây là cách cùm ác nghiệt nhất v́ máu không thể lưu thông xuống cả hai chân đồng đều, đồng thời, v́ các bắp thịt không được co giăn nên sẽ dễ đưa đến t́nh trạng tê liệt nếu bị cùm quá lâu.

Tù nhân tử h́nh chỉ có một việc làm duy nhất là đếm từng ngày một c̣n lại trên cơi đời của họ.
Sau hai tháng bị giam trong xà lim, Tuấn bắt đầu tuyệt thực để phản đối sự cư xử khắc nghiệt vô cớ của trại tù Phong Quang. Sau vài hôm, cai tù bắt đầu theo dơi và vào xà lim kiểm soát Tuấn mỗi ngày. Họ khuyên bảo Tuấn nên ăn để sống nhưng anh nhất quyết tuyệt thực cho đến khi nào được thả ra khỏi xà lim và được giam chung với các anh em Biệt Kích. Sau một tuần lể, Đại Úy Thích trưởng trại và cán bộ chính trị trại tù Phong Quang đến xà lim đích thân khuyên bảo Tuấn nên ngưng tuyệt thực. Một lần nữa, Tuấn từ chối. Đại Úy Thích ra lệnh cho nhà bếp nấu cháo gà đem đến cho Tuấn. Ông tự tay đưa bát cháo cho anh ăn. Tuấn nhận lấy bát cháo gà, chần chừ một tí rồi bất ngờ anh vung bát cháo gà nóng hổi vào mặt tên trưởng trại. Tức ứa gan, Thích đánh đập Tuấn túi bụi và sai cai tù "tẩm quất" thêm cho Tuấn một trận nhừ tử.
Hai ngày sau, tên cai tù vào xà lim coi Tuấn c̣n sống hay không. Hắn thấy Tuấn trần truồng nằm trên sàn đất trong những bải xú uế của chính ḿnh. Hắn hỏi tại sao Tuấn làm như vậy. Tuấn trả lời:
"Manh áo này không phải của chúng tôi, áo này là sản phẩm của xă hội chủ nghĩa, không phải của tôi, tôi không mặc".
Đêm đó, Tuấn lặng lẽ ĺa đời một ḿnh trong xà lim lạnh lẽo. Ngày anh chết, mồng Hai tháng Tám năm 1970 anh đă viết lại bằng chính máu của anh.
Qua ngày sau, người cai tù thường trực tên Đại đi vào xà lim xem t́nh trạng của Tuấn. Hắn thấy Tuấn đă chết từ lâu, cơ thể cứng ngắt và lạnh giá, hai đầu gối tréo nhau chĩa lên trời. Đại phải đi lấy rượu xoa vào hai đầu gối của Tuấn để rồi dần dần mới kéo thẳng hai chân anh xuôi ra được để tháo cùm chân ra rồi đem xác Tuấn đi chôn.
Những bạn tù của Tuấn kể lại, oan hồn của Tuấn thường hiện về, vất vưỡng gần cái xà lim ác nghiệt này. Chỉ ba ngày sau khi Tuấn chết, nhiều người thấy một bóng đen thấp thoáng bên ngoài khung cửa sắt pḥng giam của họ. Khi các bạn tù dùng đèn dầu chiếu ra khung cửa, họ thấy một bóng đen đứng yên lặng trông rất buồn thảm, dáng dấp trông như anh Tuấn.
Cứ khoảng mười một giờ đêm, mọi người bạn tù ai cũng thấy oan hồn của Tuấn. Lần nào Tuấn cũng chỉ đứng yên lặng nh́n vào pḥng giam chung. Sau một tuần lễ, một người bạn gọi tên của Tuấn, xin Tuấn đừng về đứng ngoài sân nữa và nói với Tuấn là họ không có liên can ǵ đến chuyện Tuấn chết, chỉ xin Tuấn hiểu cho và việc Tuấn về chỉ làm cho các bạn tù thêm buồn. Sau đêm đó, bóng đen trong đêm tối không bao giờ trở về đứng ngoài pḥng giam chung nữa.
Nguyện cầu hương hồn của người trưởng toán Biệt Kích Mai Văn Tuấn siêu thoát và xin Anh Linh anh hăy trở về phù hộ cho đồng bào và quê hương sớm thoát khỏi ác nghiệt gông cùm của bạo quyền cộng sản việt nam. Chúng tôi sẽ luôn luôn nhớ đến anh và các chiến hữu của anh đă hy sinh cho Tổ Quốc và Dân Tộc.
Ngô Xuân Hùng
23 tháng Ba, năm 2002,
tại Thung Lũng Hoa Vàng.
(trích dịch lại từ sách Secret Army, Secret War của Sedgwick Tourison, phỏng vấn các cựu Biệt Kích Nha Kỹ Thuật bị giam ở trại tù Thanh Phong) trang 259, trang 260
Trong ngày Đại Hội Biệt Hải tại Santa Ana, California, ngày 16 tháng Sáu năm 2002, theo lời tường thuật của anh Biệt Kích Xuân Nháy (bạn rất thân của anh Mai Văn Tuấn) th́ hai anh em anh Tuấn di cư vào Nam sau khi đă chứng kiến cảnh cha ḿnh bị cộng sản đấu tố, giết bằng cách đập đầu chết chứ không xử bắn. Hai anh em anh Mai Văn Tuấn đă thề không đội trời chung với loài quỷ đỏ cộng sản bạo tàn.
Nhân ngày QLVNCH, tôi xin phép để tưởng nhớ đến cái chết của Anh Hùng Nguyễn Quốc Trụ, đă bị hy sinh (xử bắn) tại Trảng Lớn, Tây Ninh trong khi bị VC giam giữ cải tạo (tháng 6 năm 1975).
Anh Nguyễn Quốc Trụ đă đỗ bằng Cao Học II, ban Công Pháp (International Laws), là candidate doctorate tại trường Đại Học Luật Khoa Sài G̣n. Anh cũng đă được đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ trong một thời gian. Cấp bậc cuối cùng là Thiếu Úy Giảng Viên tại Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh chuyên về dạy các sinh viên sĩ quan môn Quốc Tế Công Pháp. Cũng như bao nhiêu người khác, anh đă bị gọi nhập ngũ trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức sau khi đậu văn bằng Cao Học II Công Pháp Quốc Tế. Sau một thời gian thụ huấn quân sự 6 tháng, anh được Quân Đội điều về dạy học tại Trường Vơ Bị Đà Lạt.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh và các bạn bè khác phải ra tŕnh diện chánh quyền CS để đi học tập cải tạo. Qua những bài chánh trị nhồi sọ một chiều, giảng viên VC ra vẻ tỏ ra dân chủ trong khi thảo luận, đă yêu cầu mọi người tham gia góp ư kiến. Anh Trụ đă đứng lên giữa lớp học cả ngàn người, phản bác lại lư thuyết sai lầm căn bản của Karl Marx, Lenin, HCM. VC đă bắt nhốt anh vào thùng phuy (connex) mà quân đội thường dùng để chứa đạn, ngày th́ nóng khủng khiếp v́ cửa bị đóng kín, đêm th́ lạnh buốt v́ VC chỉ cho mặc 1 cái quần đùi trên người, phần ăn bị cắt giảm 1 nửa chỉ có nửa bát cơm và vài viên muối hột.
VC đă ghép tội anh là vẫn chống lại đảng, nhà nước ... v́ dám phản bác lại những điều đảng dạy. Anh cương quyết không nhận tội, v́ giáo viên đă mời tham gia ư kiến. Thế mới biết, khi thảo luận, học tập chính trị với người CS th́ chỉ phải gật với nhất trí một trăm phần trăm, không thể có ư kiến ngược lại, đảng nói là đúng, là chân lư tuyệt đối. Những người tù như chúng tôi th́ đi lên lớp cho qua ngày, không ai quan tâm về những bài lên lớp vô lư, ngu xuẩn đó. Khi thảo luận trong nhóm th́ nói qua loa cho xong chuyện.
VC đă xử bắn anh Trụ, người thanh niên trí thức mới có 25, 26 tuổi đầu, đă dám phản bác lại luận điệu tuyên truyền, nhồi sọ vô lư của đảng csvn. Tôi xin tưởng nhớ đến anh, chúc anh an nghỉ ngàn thu nơi cơi Phật, một nơi không có chém giết, không có ăn ngược nói xuôi, gian trá, lọc lừa như những người anh em theo cộng sản.
Xin anh độ tŕ cho chúng tôi, là những người bạn tù với anh hiện c̣n sống và đang cố gắng đóng góp một phần rất nhỏ bé trong công việc chung là lột mặt nạ chế độ cộng sản Việt Nam, một chế độ không coi trọng con người, độc tài và khát máu, hầu để những người khác chưa từng có kinh nghiệm sống với cộng sản khỏi bị mắn mưu lừa bịp của chế độ này nữa.
Daniel Phạm (Ngày Quân Lực, 19 tháng 6 năm 1995)
Mỗi năm, 30 tháng 4 là tôi lại nhớ ba tôi nhiều nhất. Ông qua đời từ năm 1997. Trừ vài năm trước khi nước mất, tôi lập gia đ́nh, ra riêng, tôi luôn sống với cha mẹ. Gần hai mươi năm viết Phiếm, không thiếu người nghi ngờ về những bài viết cuả tôi. Nhiều người cho rằng "ai đó" viết và tôi kư tên. Lư do: những nhận định về chính trị của tôi rất...tới. Đàn bà mà, viết sao được. Dĩ nhiên mỗi khi nghe, tôi 'thích" lắm v́ nhận xét này nghe "sướng tai" hơn những lời khen tặng nhiều. Nhiều đêm tôi tự nghĩ về những điều ḿnh đă viết ra và tôi cũng...tự hỏi tôi như mọi người vẫn thắc mắc: tại sao tôi lại nghĩ ra điều này hay điều kia. Câu trả lời chính xác nhất theo tôi đó là do sự thân cận gần gũi và kiến thức của cha già.
Nhưng quả thật, tôi làm khổ cha mẹ tôi quá lắm. Từ nhỏ tôi thông minh nên...cứng đầu, cứng cổ. Nghĩ cái ǵ là làm cái đó. 16 tuổi tôi thi đỗ tú tài, 17 tuổi tôi đổ thủ khoa kỳ thi tuyển vào trường Đại Học Dược Khoa. Trong khi các chị cùng lớp quần là, áo lượt điệu quá trời, quá đất th́ tôi c̣n mặc jupe plissée xanh đậm, áo tay phùng màu trắng, không có lấy một cái áo dài để làm duyên v́ mẹ tôi cho rằng tôi đi đứng ngang tàng, mặc áo dài, té...chỏng gọng. Nhất là v́ tôi được các anh chở đi học, không biết ǵn giữ, vạt áo dài quấn vào xe là chết. Vậy mà một năm sau, tôi đ̣i...lấy chồng, bảo sao ba mẹ tôi không chết đứng, chết ngồi cho được. Sau 30 tháng 4, 1975 tôi lại một ḿnh về sống với mẹ, với cha. Lúc này các anh, các chị tôi về Pháp cả, ngôi nhà từ đường rộng lớn chỉ c̣n ba mẹ tôi v́ thương mẹ con tôi nên cùng ở lại. Mấy hôm nay, California bị khủng khoảng năng lượng nên cúp điện lung tung làm tôi nhớ thêm những ngày sau 30 tháng 4, 1975 c̣n ở lại và những dự án "kinh tế mới" tại gia của hai cha con tôi. Thứ nhất, dễ tránh tụi công an ḍm ngó, ba tôi gọi người đến đào bới băi cỏ rộng bên hông nhà lên trồng khoai ḿ.
Trong đời, tôi không thấy một loại lá nào xanh nơn nà như ngọc như lá cây khoai ḿ. Cây th́ không cây nào đẹp như cây đậu phọng. Hoa mỏng manh, vàng rực, rễ là những hột đậu phọng ṭng teng trông đến hay. Đầu mùa mưa, những con ốc sên từ những bụi tre, bụi chuối hay tràn sang tấn công những hàng cây khoai ḿ, cây đậu phọng tốt tươi của cha con tôi. Thế là đêm nào cũng có công tác đi bắt ốc. Con gái tôi, biệt danh là Chó Xù, c̣n quá nhỏ chưa đi vững để có thể len lỏi giữa những luống cây nhặt ốc nên chỉ được mặc áo ấm ngồi trên xe đẩy chờ mẹ, ông ngoại và anh Chuột đi bắt ốc.
Tuy nhiên, "ngày vui qua mau" v́ khi những luống khoai ḿ đầu tiên ra củ th́ tin tức về việc tôi và trẻ con có thể ra khỏi nước mong manh dần mặc dù tôi có quốc tịch Pháp từ khi mới ra đời, nghĩa là tuy trong tay tôi đă có pass port, có vé máy bay nhưng Sở Di Trú Người Nước Ngoài (đảng ta giản dị hoá tiếng Việt như thế đó: Sở Ngoại kiều cuả ta biến thành Sở Di Trú Người Nước Ngoài) không cấp cho tôi giấy xuất cảnh v́ lư do tôi có chồng là quân nhân "ngụy" mà lại không có giấy tŕnh diện học tập cải tạo của chồng. Từ đó những buổi tŕnh diện công an với những câu hỏi như : chị dấu chồng chị ở đâu? Tại sao chị lại có quốc tịch Pháp? Mẹ chị là...sen đầm à? Trông chị hiền thế sao lại lấy chồng "ngụy" nợ máu với nhân dân? Toàn là những danh từ mà con gái Sè-gọng nghe muốn bể lỗ tai. Chưa hết, phải nghe bọn công an Thanh Nghệ Tĩnh luận về tội của dân miền Nam mới là đáng phục cho trí tưởng tượng phong phú của đảng ta. Sau vài lần khai báo, tôi cứ viết là tôi không có tội ǵ cả. Trước khi các ông vào đây, tôi chỉ có đi học, ăn bám cha mẹ, tôi chả có tham gia đoàn thể hay biết ǵ về chính trị. Tội cuả chị là không biết động viên chồng theo đường lối cách mạng. Tội này th́ sinh viên Dược Khoa c̣n lâu mới căi nổi.
Hai tháng sau khi "cách mạng" vào th́ "dược sĩ" ở nhà coi con v́ hai cô nhỏ người làm xin về quê, theo tiếng gọi b́nh đẳng của XHCN. Một bà cô họ có chồng là cảnh sát trưởng quận 1, lừng lẫy bây giờ bị tịch thu nhà cửa, phải đem vào gửi thằng con trai út lên mười hai nhờ nuôi hộ. Thằng nhỏ ở gần chợ Cầu Ông Lănh, khôn quá trời, quá đất. Nó dạy cho tôi nhiều thứ của đường phố Saigon mà cho đến giờ phút đó tôi cũng chưa biết. Buổi chiều, có thằng nhỏ coi con, tôi đi học... nữ công gia chánh nhưng chỉ học những món tôi mê. Ví dụ, tôi đi t́m chị Trà, chồng là trung sĩ Cục Tâm Lư Chiến, nhà ở cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông để học may áo dài. Chị "khen" tôi sáng dạ, học là may được liền. Tôi "thực hành" bằng cách "gạ" mấy bà chị ruột, chị dâu may miễn phí mà coi bộ cũng không xong. Lư do, "cách mạng" vào rồi:
Mỗi năm hai thước vải sô
Lấy ǵ che kín cụ Hồ em ơi!Vải che "cụ" c̣n không có, lấy vải đâu ra cho tôi may... thiệt mà như may chơi. Tôi mê "bánh tiêu" cuả ông Tàu già ở chợ Tân Định buổi chiều. Tôi "gạ" ông Tàu dạy cho tôi cách làm bánh tiêu v́ tôi sợ mai mốt qua Tây, tôi thèm "bánh tiêu chợ Tân Định" làm sao mà có đây. Cái khó là "nghề" nào ở Việt Nam cũng là nghề gia truyền, không ai muốn dạy cho ai bao giờ. Vậy mà sau nhiều lần tốn tiền và năn nỉ, ông Tàu mới đồng ư dạy tôi. Rồi tôi đi Đà Lạt trong lúc đường xá vô cùng khó khăn. V́ trong kư ức tuổi thơ cuả tôi, không có món quà nào ngon hơn chuối chiên của bà già ở chợ Hoà B́nh. Tháng 9, 1975 khi tôi lên Đà lạt th́ đó là một thành phố chết. Những ngôi biệt thự chưa được chiếm ngự tối om lạnh lẽo. Gia đ́nh người bạn c̣n ở lại, cửa hàng bán len trống trơn v́ không có hàng để trưng bày. Khi biết ư định của tôi, ai cũng ph́ cười. Nhưng khi biết ḿnh sắp ra khỏi nước, tôi không biết nói sao để mọi người hiểu về những ǵ tôi muốn mang theo. Món chuối chiên, món chả gị ở chợ Hoà B́nh là cái ấm áp tôi mang theo từ những buổi sáng muà đông Đà Lạt nằm bên cạnh bà nội tôi, nghe tiếng bếp lửa reo vui cuả mùi cháo đậu xanh thơm lừng trong không. Món bánh tiêu ở chợ Tân Định là sự phiêu lưu kỳ thú thứ nhất tôi đă làm được: dám đi một ḿnh từ nhà đến nơi và dám mở miệng mua một món hàng dù đó chỉ là món bánh tiêu.
Sau này khi ra khỏi nước, những nghề vặt học được từ những ngày ở lại đă giúp tôi không ít: mười năm đầu ở Mỹ tôi thường may quần áo lấy mà mặc, bây giờ th́ tự sửa lấy quần áo. Và nhất là món bánh tiêu và chuối chiên cuả tôi vẫn được nhiều người khen ngợi.
30 tháng 4 vẫn là một ngày làm tôi nhớ đến cha tôi c̣n hơn ngày giỗ của ông. Mỗi lần tôi phải đi đến "Sở Di Trú Người Nước Ngoài" tŕnh diện, v́ biết tôi nhút nhát lắm nên ba tôi phải dẫn tôi đi. Ông thường ngồi chờ bên ngoài trong lúc tôi phải bước vào bên trong viết bản tự khai một ḿnh. Ba tôi đă dặn tôi từ trước là viết ǵ th́ phải nhớ để kỳ sau viết lại y như thế. Khổ nỗi, tôi có trí nhớ dai, những lần sau tôi viết chỉ vài phút đă xong. Ba tôi lại dặn ḍ, con viết chầm chậm cho chúng nó khỏi nghi.
Trời Saigon thường có những cơn mưa trút nước. Nhiều lần khi tôi ra khỏi căn pḥng có ngọn đèn vàng tù mù và những ông công an VC có hàm răng vàng mả th́ trời đă chạng vạng tối. Cha tôi vẫn đứng đợi tôi bên ngoài. Dạo đó để tiết kiệm, ba tôi thường chở tôi đi bằng chiếc xe Honda hơn là xe hơi. Biết tôi buồn và lo âu nên ba tôi thường lái xe một tay, tay kia thường vổ về vào bàn tay cô con gái út để an ủi. Thực t́nh tôi chỉ biết cha tôi yêu tôi hơn các anh, các chị nhưng măi cho đến khi ba tôi mất đi, dọn dẹp đồ đạc ba tôi để lại tôi mới hiểu ḷng cha tôi đă yêu tôi như thế nào. Ba tôi giữ từng lá thư, từng kỷ niệm của cuộc đời tôi, cho tôi. Nhiều điều tôi đă quên, tôi không c̣n nhớ cho đến khi đọc lại mới chợt nhớ lại những ǵ đă xảy đến cho tôi trong những ngày tháng đó. Nhất là tôi quên đi cuốn nhật kư ghi lại những ngày đầu sau khi miền Nam thất thủ. Tôi không hiểu v́ sao, lư do ǵ cha tôi c̣n giữ nó trong khi tôi chỉ nghĩ là chắc tôi đă bỏ lại ở đâu đó trong thời gian ở Pháp? Hay trong cơn hờn giận tức tối, tôi đă vứt đi để quên đi những điều không muốn nhớ. Nhưng cũng nhờ vậy mà nh́n lại vài chi tiết của Saig̣n những ngày vừa đổi chủ cũng rất vui. Ví dụ như nhờ đọc lại "nhật kư đời em" này tôi lại thấy h́nh như tôi cũng có khiếu... viết văn. Thế mới hay. Ví dụ như đoạn văn sau đây:
Tháng 5, 1975: tháng của dọn nhà, "đăng kư", cười ra nước mắt và tuyệt vọng.
Ngay sáng mồng một, tôi đi từ sớm. Phải đi về với ba mẹ tôi ngay và ghé ngang consulat của Pháp, xem có tin tức di tản Pháp kiều ǵ không.Đường xá vẫn như chiều hôm qua.Tất cả đường đều nghẹt cứng. Dù là đi ngă Phú Nhuận hay G̣ Vấp. Tới Phú Nhuận, tôi gặp vợ chồng một người d́ họ, chồng là trung úy phi công lái A37 ở Biên Ḥa. Không hiểu sao họ c̣n kẹt lại. D́ ấy sắp sinh, bụng to thế mà c̣n ráng ngồi sau xe Honda. D́ nói nhỏ với tôi là vợ chồng sẽ đi về Long Xuyên. Tôi biết ngay ư định cuả họ. Tôi hỏi nhỏ: có đường ǵ không. D́ ấy trả lời: anh Ba. À, th́ ra thế. Anh Ba là ông Lương Trọng Tường, anh ruột cuả mẹ tôi, Hội Trưởng PGHH. ông có dặn mọi người là khi nào t́nh h́nh Saigon bất ổn, chúng tôi nên về Long Xuyên với ông ấy. Hai vợ chồng tất tả chạy ngay.
Tôi đi đến Consulat (*). Rất đông người tụ tập ở đó. Số người không có Pháp tịch cũng đông tuy không được cho vào bên trong. Họ tụ tập để nghe ngóng tin tức v́ có thân nhân ở Pháp. Tôi vào trong, lên lầu, gặp bà Henriette, người lo về service social (*) của Consulat. Bà cho biết cho đến bây giờ vẫn chưa có lệnh ǵ cuả Paris cả. Nay mai ǵ tôi trở lại xem sao.
Tôi đến trường Dược. Sinh viên đứng đầy trong sân. Khoa trưởng Tô Đồng đă đi từ tuần trước. Ngó lên văn pḥng Khoa Trưởng ở hành lang thấy thầy phó KT Vơ Phi Hùng, thầy Trương bá Trước. Tôi hỏi thầy Hùng việc tôi muốn xin rút học bạ của ḿnh. Thầy Hùng bảo lúc này coi như hết chuyện. Niêm phong hết rồi, tôi chẳng có quyền hành ǵ. Chị chờ vài hôm xem sao.
Thấy c̣n sớm, tôi đi về nhà tôi trên Làng Báo Chí, Thủ Đức. Vừa tới quán bà Tư ở đầu làng, mấy bà đă la lên: có người nh́n thấy xác thân nhân của bà nằm ở chân cầu, bà có đi t́m chưa. Xác mặc quần xanh, áo trắng. Đă có chủ ư, tôi bảo: Ai trông thấy vậy chị. Vài người bảo: bà PK, vợ PKT báo văn Học. Tôi đi ngay đến nhà ông PKT. Những xác chết dọc đường vào làng vẫn c̣n nằm vương văi nhưng cái xác mà bà PK bảo là người nhà của tôi th́ đă không c̣n. Bà PK ái ngại: chắc mấy ông du kích dọn dẹp để lấy chỗ cho xe tăng vào thành phố.
Tự dưng tôi chảy nước mắt mặc dù không chủ định sẽ đóng kịch như thế. Tôi biết người bà PK đề cập tới đă lên tàu ở thương cảng Saigon. Nhưng thoát hay không th́ tôi không biết. Nam Mô A Di Đà Phật.
*
3 tháng 5, 1975
Cậu Ba Lương Trọng Tường về Saigon. Cậu về nhà anh Năm Lương Trọng Lễ, con trai lớn của cậu. ba mẹ đă ra thăm. Cuối tuần qua là đám giỗ của bà ngoại tôi. Tôi không thể hiểu được thái độ b́nh tĩnh đến kỳ lạ của cậu Ba tôi tức ông Lương Trọng Tường lúc này. Cả họ tụ họp ăn uống linh đ́nh như không có chuyện ǵ xảy ra, Như chuyện những cái cờ MTGPMN đang bay đầy trên phố là chuyện đùa, chuyện không thật. Cậu Ba Tường hỏi thăm chuyện gia đ́nh tôi. Tôi cho biết bên nội sắp nhỏ đă đi rồi. Cả nhà cười đuà ầm ĩ dù trong bữa ăn cũng có tiếng ai đó cảnh giác: nói nho nhỏ thôi. Trong các món ăn có một món toàn nấm đông cô. Ai đó đuà bảo: "cách mạng" mà ăn cái này vào là dám trúng độc lắm đây...
Tôi gặp lại d́ Liên. D́ cho biết xuống tới Long Xuyên th́ Long Xuyên đă bị tiếp thu. Đành trở lại Saigon. Hơn nữa, "anh Ba" đă lên Saigon. H́nh như, mọi người trong họ tôi vẫn coi cậu Ba Tường là "cửa ngơ" của mọi người. Linh tính nào đó cho tôi biết rằng không phải như vậy. Tôi rất vui mừng và an tâm v́ đă không giữ người ấy ở lại đi theo đường qua Pháp với gia đ́nh tôi.
18 tháng 5, 1975
Bữa giỗ đó là bữa ăn cuối cùng tụ họp được cả họ và là lần cuối cùng tôi được gặp cậu Ba Tường. Một ngày trước khi cậu ấy bị bắt tôi có thoáng thấy cậu ấy ở Consulat Saigon. Ba tôi cho tôi biết cậu ấy vào gặp ông consul xin tị nạn chính trị hoặc xin trở lại quốc tịch Pháp v́ cậu ấy đă không điều chỉnh giấy tờ như luật định từ nhiều năm nay từ khi đi làm chính trị.
Ngay những ngày đầu tiếp thu đă có lệnh quân nhân đi tŕnh diện. Tôi bối rối, đi t́m anh Kim Tuấn (*) hỏi về việc có phải đi khai báo cho người đă đi nơi dành riêng cho sĩ quan Cục TLC không. Tôi gặp cả anh Nguyễn Thiệp(*) tại nhà anh Kim Tuấn. Hai ông cười đuà v́ sau khi đi tŕnh diện tất cả đều được thả về. Tướng tá c̣n đầy cả kia ḱa. Mấy đứa nhảy tàu coi chừng chết bỏ vợ, bỏ con. thôi, bây giờ làm dân đen cũng thú. Hai ông cười đùa về những cái quê của người miền Bắc.
Tôi th́ chỉ có khóc. Gặp ai tôi cũng rơi nước mắt được. Nói ǵ cũng khóc. Dù ai cũng ganh tị với cái quốc tịch Pháp của tôi. Tôi chỉ cảm thấy buồn. mênh mông buồn v́ linh tính cho tôi thấy tất cả xă hội này như một cái bánh nhồi nặn bởi một người thợ vụng về. Tất cả h́nh như chỉ là những mảnh chấp vá, không đầu, không đuôi.
26 tháng 5, 2001
Anh Kim Tuấn kể chuyện đi tŕnh diện Hội Nhà Văn Miền Nam. Ông Thế Nguyên là chủ tịch. Trụ sở là một phần Toà Đại Sứ Đại Hàn ở đường Nguyễn Du, đối diện trường Quốc Gia Âm Nhạc. Ông Kim Tuấn bảo gặp đủ hết. Sáng 8 giờ đến ngồi tới 12 giờ, được phát một miếng giấy cùng một câu hỏi: ngày xưa anh hiểu lầm chế độ ra sao, bây giờ viết lại đi. Không anh, chị nào viết được một câu. Chiều đến lại một tờ giấy và một câu hỏi tương tự.
Mọi người đều có chung cảm nghĩ là bây giờ miền Bắc đă chiếm trọn miền nam, chắc không đến nỗi nào. Ai cũng tin tưởng vào chính sách khoan hồng, xóa bỏ hận thù cuả nhà nước. Đài truyền h́nh và đài phát thanh lải nhải chuyện này suốt cả ngày đấy thôi...
Tôi không hiểu cuốn nhật kư của những ngày đầu 30 tháng 4, 1975 với nhiều t́nh tiết phản động này của tôi không hiểu làm sao ba tôi c̣n lưu giữ trong đống giấy tờ ba tôi bỏ lại. Và nhất là làm sao ba tôi lại mang được ra khỏi Việt Nam trong sự kiểm soát gắt gao của công an những năm 75, 76 dành cho Pháp Kiều di dân. Phần nhật kư c̣n rất dài. Tuy nhiên, phần lớn là những ghi nhận những điều tường thuật của bạn bè hơn là mắt thấy, tai nghe nên cũng không dám nói phần chính xác được là bao. Chỉ viết lại để nhớ thương người cha đă khuất. Cái nghiệp báo này nếu có được tiếng khen th́ cũng là do cha dạy mà thành. Thân phận mồ côi cha th́ dù bao nhiêu tuổi đời vẫn không thể nói là không tủi.
Mỗi năm 30 tháng 4 luôn làm tôi nhớ những chiều mưa Saig̣n và cái "Sở Di Trú Người Nước Ngoài" cùng với bàn tay vỗ về của cha tôi trấn an con trẻ. Con đường về nhà ướt sũng nước mưa khiến tôi không c̣n phân biệt được nước đang trôi qua miệng ḿnh là nước mắt hay là nước mưa. Tôi biết rơ một điều, ngoài h́nh hài, khối óc tôi, nếu có, là do những chiều lộng gió, đẫm mưa này, khi cha con tôi hoà chung nước mắt với nước mưa của quê hương một thời nghiêng ngữa.
Đào Nương