Vành Tang Dân Tộc
“30 tháng 4/75 – 30-4/09, 34 năm c̣n đó!”
“30-4 phủ xuống màu tang
Miền Nam bỗng tắt nắng vàng tự do
Ra khơi trên những chuyến đ̣
Thoát bầy qủy đỏ giặc Hồ-chí-Minh”!
Ḍng Sinh Mệnh Dân Tộc Chết Theo Vận Nước.
Sau HĐ Genève 54, tại miền Nam khai sinh nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa thoát khỏi ảnh hưởng thực dân Pháp. Trên đường củng cố xây dựng nền độc lập, tự do dân chủ pháp trị để tái thiết đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa và xă hội hầu đối đầu với chế độ CS miền Bắc, một chế độ độc tài đảng trị, phản tiến bộ, phi dân chủ do Hồ-Chí-Minh cùng tập đoàn tay sai CS quốc tế sập theo khuôn mẫu quan thầy Nga, Tàu cai trị bằng bạo lực và khủng bố tàn sát dân tộc, măi quốc cầu vinh.
Trong bối cảnh lịch sử đó, th́ một đám tướng tá xuất thân từ những tên lính thực dân vô thức ngoảnh mặt, quay lưng với dân tộc lại sẵn sàng làm tay sai, nô lệ cho những thế lực điên rồ Mỹ tại Washington thời TT Kennedy; dài bàn tay thao túng vào nền độc lập của chế độ Đệ Nhất VNCH do TT Ngô-Đ́nh-Diệm khai sinh và lănh đạo. Qua cuộc đảo chánh ngày 01-11-63, kết thúc một giai đoạn lịch sử thanh b́nh, thịnh vượng tại miền Nam mở màn một giai đoạn cực kỳ hổn loạn. Mỹ bắt đầu bằng chính sách quân sự ồ ạt đổ quân vào. Sự kiện nầy, đă tạo thời cơ cho tập đoàn CS Hồ-chí-Minh trương cờ chính nghĩa với chiêu bài chống xâm lược Mỹ cứu nước, ngụy trá dưới những nhản hiệu: Mặt Trận GPMN & Chính Phủ LT Cộng Hoà MN Việt Nam do Hà Nội đạo diễn để đánh lừa quốc tế và quyết tâm theo đuổi mục tiêu nhuộm đỏ miền Nam qua biến cố 30-4-75.
Vành tang đă quàn lên đầu dân tộc bắt đầu từ ấy; mà chính cựu đại tướng Nguyễn-Khánh (có lần làm quốc trưởng LT trên sân khấu chính trị khôi hài thời đó) đă trả lời phỏng vấn của báo chí một đoạn liên quan đến chủ quyền quốc gia rằng: “Ông là quốc trưởng, mà chủ quyền ở trong tay ĐS Mỹ & tướng Westmoreland tổng tư lệnh lực lượng quân sự Mỹ taị VN. Th́ sự sụp đổ miền Nam sau đó chỉ c̣n là thời gian mà thôi, nó đă bắt nguồn từ cuộc đảo chánh ngày 01-11-63” câu nói thành thật lẫn khôi hài nầy qủa là chí lư.
Vành Tang Dân Tộc “30-4-75”
30-4 biến cố tang thương
Miền Nam bỗng chốc trên đường ly tan
Khi Dương-văn-Minh đầu hàng
Trại tù phơi xác, xương tàn bể khơi!
Sau khi bức tử, nhuộm đỏ miền Nam, CS Hà Nội vơ vét nguồn tài nguyên đưa về Bắc, quốc hữu hóa các xí nghiệp và tài sản tư nhân, rồi buộc cho họ cái tội “tư sản mại bản” phản động, đưa vào trại giam. Không bao lâu các nhà máy, xí nghiệp trở thành băi sắt vụn hoang tàn. Thế rồi chúng bần cùng hóa dân miền Nam xuống tận cùng, ngang tầm dân miền Bắc XHCN; qua các cuộc kiểm kê, cướp đoạt tài sản và hai lần đổi tiền. Rồi đưa tất cả vào hợp tác hóa công, nông thương nghiệp, lưu đày dân thành thị lên miền rừng núi hoang vu với mỹ từ vùng “kinh tế mới”.
Như bầy ong vỡ tổ, hàng triệu triệu người bỏ nước ra đi lánh nạn CS phó mặc cho đại dương trùng khơi sóng cả bằng tâm niệm “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt; ccøn hơn le lói suốt canh trường” số người may mắn đến bến bờ các nước tự do trên dưới hai triệu, số người bất hạnh bị bỏ ḿnh trên bể khơi hoặc bị bắn chết trên ghe trên băi với tội danh “vượt biên là phản quốc” cũng gần cả triệu người, khiến cho thế giới bàng hoàng sờ sững; tiếng nấc uất nghẹn lẫn tiếng khóc than thấu tận trời cao trong cảnh lầm than, đói rét cùng cực của đồng bào qua mấy vần thơ của Thi sĩ Hà-Thượng-Nhân “Người đi, triệu triệu người đi, Nước non chẳng thiếu những ǵ tang thương!”
Việt Nam “Quần Đảo Ngục Tù Vĩ Đại” Thế Kỷ.
Sau khi chấm dứt cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”, kéo dài ngót 30 năm do Hồ-chí-Minh du nhập tà thuyết Mác-Lê gây nên, th́ sau đó việc ǵ cũng có thể xảy ra, mọi giả thuyết đều có thể biến thành hiện thực. Nhưng có lẽ CSHN ái ngại không áp dụng chủ trương giống như bọn Khmer Đỏ ở Miên bị quốc tế lên án gay gắt. Để che dấu dư luận, CS Hà Nội áp dụng thủ đoạn trả thù tàn bạo bằng một phương pháp tinh vi khác theo khuôn mẫu quan thầy của họ là Lenin – Stalin áp dụng ở Nga: một hệ thống các “trại tập trung cải tạo”, nhiều đến nỗi nhà báo Ư, ông Paolo Cacace, đă đăng tải trên báo “II Campo” ngày 15-11-1977 như sau: “Việt Nam đă biến thành “Quần Đảo Ngục Tù Vĩ Đại”. Họ gọi các trại tù đó là những “trường cải tạo” trong đó hàng chục vạn người thuộc giai cấp thù nghịch phải đến học tập.
Không ai biết có bao nhiêu các “trường học cải tạo” loại đó được thiết lập ở Việt Nam, từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau, sau ngày 30-4-75, mặc dù tổ chức Aurora Foundation, một tổ chức theo dơi rất kỷ vấn đề nầy trong nhiều năm liền, có vẽ lại một đồ h́nh với nhiều loại trại tập trung, kể cả những nhà tù đă có từ trước.
Số đảo trong “Quần Đảo Ngục Tù” đă không được biết rơ th́ số học viên lại càng khó biết rơ hơn. Người ta chỉ có thể đưa ra những con số ước lượng mà thôi. V́ nếu có thể biết được con số người giam giữ trong các trại của chính quyền CS trung ương, các tỉnh, quận-huyện th́ trái lại không ai biết rơ tại các làng mạc, các đảng viên CS ở các xă, ấp, những cường hào ác bá mới, cũng có thể giam giữ người mà chẳng cần phải báo cáo lên trung ương, để thỏa măn các tham vọng quyền thế của họ tại địa phương và nhất là để trả thù cá nhân. Những sự khủng bố hay trả thù cá nhân đó đă xảy ra trên khắp làng mạc ở thôn quê miền Nam mà dư luận bên ngoài không ai biết tới, ngoài ra, những gia đ́nh nạn nhân khi cha mẹ anh em hay chồng con bị bắt đem đi mà không bao giờ thấy trở về, khi đă bị thủ tiêu.
Theo bản báo cáo các vụ vi phạm nhân quyền ở Việt Nam của tổ chức Aurora Foundation, công bố năm 1989, th́ số người giam giữ trong các trại đó là từ 50.000 đến 500.000. Tuy nhiên, chính quyền CSHN, trong nhiều dịp, có nói rằng “hơn một triệu người đă phải trải qua một thời gian học tập cải tạo dưới h́nh thức nầy hay h́nh thức khác”.
Sau ngày 30-4-75, tướng Trần-văn-Trà, chủ tịch UBQQ thành phố Saigon tuyên bố với báo chí rằng: “Đối với người Việt Nam, không có ai là kẻ chiến thắng hay chiến bại. Chỉ có đế quốc Mỹ bị đánh bại mà thôi”. Tuy nhiên với lời tuyên bố đó và với những hứa hẹn của chính quyền CSHN, hàng trăm ngàn quân, dân, cán chính miền Nam phải đi tŕnh diện để đi “học tập cải tạo” trong một tháng hay 15 ngày tùy địa phương, nhưng đó là những lời đánh lừa, khi tất cả vào trại tù th́ họ tuyên bố rằng khi nào “cải tạo tốt”, nghĩa là cho tới khi nào CS muốn thả th́ thả, vô thời hạn.
Khi Phạm-văn-Đồng, thủ tướng VC tới Pháp sau những năm 1975, báo chí quốc tế có hỏi về t́nh trạng những người “tù cải tạo” th́ Phạm-văn-Đồng trả lời rằng:
“Hiện nay Việt Nam chỉ c̣n giam giữ 5% thành phần của chế độ cũ”. Và với một luận điệu vu vơ, che dấu thủ đoạn tội ác rằng: “thành phần nầy chính phủ c̣n giữ họ để được an toàn v́ có nhiều nợ máu với nhân dân” nếu thả ra sớm, khi người dân chưa nguôi căm phẩn sẽ có hại đến tính mạng họ, chính quyền không thể can thiệp kịp thời.
Câu nói man trá, giả nghĩa nầy không thể nuốt lời, chính phủ Hoa Kỳ thời TT Regan liền gài CSHN và đưa ra kế hoạch điều đ́nh, trao đổi đă buộc CSHN để Mỹ đẩy mạnh chương tŕnh định cư tỵ người CTNCT vào Mỹ (thường gọi là HO) đă bắt đầu từ đó.
Khi Nguyễn-cơ-Thạch là bộ trưởng ngoại giao VC đă trả lời kư giả đài BBC, tuyên bố: “Trong số hơn hai triệu người dính liếu với chế độ cũ hay phục vụ cho Mỹ, không có ai bị kết án tử h́nh”. Đến đây th́ người ta mới tạm biết một cách tổng quát về con số tù nhân miền Nam bị giam trong các trại cải tạo lên hàng mấy triệu người.
Ta hăy nghe Nguyễn-tương-Lai một cán bộ cao cấp CS, phụ trách vấn đề cải tạo khi về hưu tiết lộ về chính sách bí mật của Đảng một cách rất rơ ràng… : “các vụ thủ tiêu, hành quyết phải được giữ kín, để cho dân chúng không có dịp tỏ sự thương xót của họ đối với nạn nhân… ”. Nói một cách khác, th́ các vụ hành quyết phải được tiến hành một cách lặng lẽ, không được thi hành ở những nơi có người biết để tránh tai tiếng và để cho Tây Phương có cảm tưởng rằng CS áp dụng chính sách nhân hậu. Căn cứ vào hàng ngàn bản phúc tŕnh của các cơ quan hữu trách, của người tỵ nạn, người ta được biết rằng CS thường xử tử công khai các nhân vật chính trị riêng rẽ để khủng bố tinh thần kẻ khác do những bản án của ṭa án nhân dân, nhưng giữ kín các vụ tàn sát tập thể hay thủ tiêu những phần tử nguy hiểm. Điển h́nh những trường hợp của bốn nhân vật sau đây bị hành quyết công khai đầy man rợ mỗi người một cách khác nhau khi bị buộc tội “có nợ máu với nhân dân”.
Liền sau khi nhuộm đỏ miền Nam vào trung tuần tháng 5/75 tại Bạc Liêu, một ṭa án nhân được lập ra để xét xử bốn tội nhân được Đảng rĩ tai, kích động đạo diễn trước.
Thứ 1 là ông Lê-Văn-Sĩ, một cựu quận trưởng đă giải ngũ truớc 75, bị cột vào cái trụ rồi bắn chết, thi thể nạn nhân du kích c̣n lấy đá đập cho nát sọ.
Thứ 2 là ông Nguyễn-Văn-Điềm, xă trưởng, trước khi bị bắn chết cho du kích đâm nhiều nhát dao máu phun có ṿi.
Thứ 3 là trung sĩ Nguyễn-Văn-Lạc, sau khi bắn xong, thi thể cho lôi đi “biểu diễn” khắp nơi trong làng.
Thứ 4 là trung tá Tự, cột vào cái trụ, bắt gia đ́nh thân nhân đứng chứng kiến khi cho hành quyết bắn nát cả mặt mày.
Hầu hết tại các vùng nông thôn sau 30/4/75, những vụ hành quyết lẻ tẻ hoặc tập thể, năm, ba trăm người diễn ra như cơm bửa những cảnh tượng nêu trên.
Chính Nguyễn-công-Hoan, một cựu dân biểu VC đă xác nhận điều đó xảy ra tại các tỉnh B́nh Định, Quảng Ngăi, Quảng Nam. Những nạn nhân hầu hết là cựu viên chức và quân nhân của chế độ cũ, các lănh tụ các đảng phái chính trị.
Ngoài những thành phần nêu trên, các thành phần hồi chánh viên bỏ VC về với quốc gia. Khi họ nhận diện th́ không cần đưa vào trại cải tạo, liền bị đem ra hành quyết với tội danh phản đảng, phản quốc. Theo tài liệu của tổ chức “Aurora Foundation” th́ tiến sĩ Nguyễn-Văn-Canh, người đă dày công t́m kiếm và phỏng vấn để đúc kết hồ sơ tội ác của VC ông đă viết: “Mặc dù đă điều tra t́m hiểu khá nhiều, nhưng tôi chỉ được nghe có một ít những người tỵ nạn họ trước đây là hồi chánh viên cũng như tôi chẳng có thể biết về những ǵ đă xảy tới cho HCV c̣n sót ở Việt Nam”.
Nếu kể đến những sự tàn bạo dă man của cán bộ CS th́ phải nói đến VC liên khu 5. Một câu chuyện sau đây do ông Nguyễn-Chí-Thiệp, một tù nhân chính trị viết lại trong cuốn “Trại-Kiên-Giam”:
“một hôm chúng tôi được điều đi lao động xa, dọn một nghĩa địa giữa hai phân trại A và B lấy đất trồng khoai ḿ. Nghĩa địa khoảng hai mẫu… Những nạn nhân chết tại đây trong ngày 3 và 4 tháng 5/75 thuộc Tuy Ḥa, Sơn Hoà, Hiếu Xương, Phú Đức không kịp chạy khỏi địa phương, họ bị bắt và đưa đến đây giết tập thể… khoảng 500 người... Số cán bộ hạ tầng cơ sở của VNCH Phú Yên và Khánh Ḥa tập trung lại khoảng 8.000 người. Nguyễn-Hữu, tên bí thư tỉnh ủy Phú Khánh chủ trương đưa lên Xuân Phước giết hết. Trong hai ngày 3 và 4 tháng 5/75 họ mới giết hơn 1.000 th́ có lịnh từ Hà Nội chỉ thị ngưng lại …”
Trong “Quần Đảo Ngục Tù Vĩ Đại” nhất thế kỷ, CSHN tiêu diệt TNCT bằng nhiều phương pháp tinh vi qua nhiều h́nh thức: chọn vùng rừng thiên nước độc, nơi phát sinh bệnh sốt ác tính giết hại tù nhân như trại tù Huy Khiêm vào những tháng mùa mưa (4,5,6) sốt ác tính hoành hành giết hại lên bốn, năm trăm người trong những năm đầu gây chấn động; mệnh danh là trại “tử thần sốt ác tính”, kế là lao động khổ sai, đói rét suy dinh dưỡng để bịnh tật phát sinh, nếu chưa chết ở trại, khi thả về cũng sẽ chết lần ṃn. Tẩy nảo, triệt tiêu sức đề kháng, chập chờn cơn ác mộng luôn ám ảnh phải rùng ḿnh khi nghĩ tới trại tù.
Hăy nghe một câu chuyện khác trong tập hồi kư “Tôi Phải Sống” tác phẩm của Lm. Nguyễn-Hữu-Lễ một cựu TNCT kể lại trường hợp ông trốn trại cùng với bốn người là: cựu DB Đặng-Văn-Tiếp, ĐT Trịnh-Tiếu, GS Nguyễn-Sĩ-Thuyên và anh Lâm-Thành-Văn như sau”:
…. “Tên cán bộ Hoàn quát gọi Linh mục Lễ gằn từng tiếng:
-“Lễ! Mầy có ra không? Hay đợi tao bắn nát đầu mầy?...
Thấy không có kết qủa sau khi quát tháo ra lịnh, hắn dùng cây gậy có móc sắt ở đầu quơ mạnh, móc sắt trúng người anh Đặng-Văn-Tiếp, máu loang chảy đỏ cả mặt nước… .
Linh mục Lễ vừa lên tới bờ sông, tên chuẫn úy Lăng, SQ an ninh trại, đứng chực sẵn phía trước. Tay hắn cầm khẩu AK, dùng báng súng tọng mạnh vào ngực linh mục Lễ ngă lộn xuống nước. Tên cán bộ Hoàn dùng gậy có móc sắt kéo lên khỏi bờ. Đám cán bộ nhào tới đấm đá không ngớt tay… Trên đường lôi về trại vừa chạm mặt tên cán bộ Khải, huấn luyện viên vơ thuật của trại. Hắn liền lấy đà đánh bằng hai gót chân thật mạnh vào mặt linh mục Lễ ngă lộn nhào xuống con suối cạn, máu me chảy đầy mặt loang lỗ xuống chiếc áo tù. Bọn cán bộ tưởng đă chết chúng lôi sóng soá về trại để nằm tại hội trừờng, chúng lấy nước lạnh dội lên người, hồi lâu thấy tỉnh lại, chúng lại tiếp tục đánh bằng những gót chân lên khắp người ông như vẫn chưa nguôi cơn hận thù, ông bất tỉnh chúng để ông nằm đó quay sang anh Đặng-Văn-Tiếp, giờ nầy người anh đă mềm nhũn bị đám cán bộ đánh dă man từ bờ sông lên, bầm dập cả thân thể; rồi mọi người thoáng nghe trong tiếng rên rỉ đứt quảng đó!... “chắc con chết mẹ ơi!” đó là lời trăn trối cuối cùng của anh. Anh chết không nhắm mắt khi vừa mới 46 tuổi.
Sau khi đánh chết anh Đặng-Văn-Tiếp, chúng lôi xác anh vào khu kỷ luật và vứt đè lên ḿnh linh mục Lễ, chúng tưởng cả hai đều chết. Đến khi chúng thấy linh mục Lễ tỉnh lại, chúng lôi vào pḥng kỷ luật và xích chân vào song sắt… Anh Nguyễn-Sĩ-Thuyên chúng tra tấn, đánh đập dă man như số phận linh mục Lễ… Riêng anh Trịnh-Tiếu và anh Lâm-Thành-Vân ốm yếu suy nhược bởi chứng đau dạ dày nên không vượt thoát qua khỏi bức tường bị kẹt lại, chúng tra tấn và đánh đập tàn nhẫn, anh Lâm-Thành-Vân xuất huyết dạ dày và chết sau đó mấy ngày hai chân vẫn bị cùm. Anh Trịnh-Tiếu c̣n sống sót…
Sau khi định cư tại Mỹ không lâu những vết thương tra tấn tái phát ông đă qua đời.
Những Cái Chết Thủ Tiêu, Hoặc Bỏ Đói Trong Tù:
Luật Sư Trần-Văn-Tuyên, một nhà tranh đấu cho nhân quyền, một chính khách lỗi lạc miền Nam cả thế giới nghe tiếng. Đă chết trong nhà giam năm 1976 tại trại tù Hà Sơn B́nh. Theo một bức thư của chính quyền CSHN gởi cho cơ quan IFOR ở Ḥa Lan hồi tháng 5/78 rằng ông Trần-Văn-Tuyên chết v́ “đứt mạch máu năo”. Cho tới nay hài cốt của ông cũng không được CS chỉ cho thân nhân. Chúng thủ tiêu ông năm 76, nhưng giấy khai tử năm 84 và gần đây mới được gửi cho thân nhân. Lư do chúng thủ tiêu ông là người cứng đầu, v́ ông dứt khoát không viết bản tự khai mà chúng cho rằng những “tội ác” của ông với dân tộc VN. Ông tuyên bố -“Tôi không phạm một tội ác nào đối với tổ quốc VN. Tôi không làm điều ǵ sai trái, nếu có th́ đó là dưới con mắt của đảng CS”.
Đó là những trường hợp điển h́nh trong muôn vàn trường hợp tương tự dưới chế độ lao tù tàn bạo của CSHN. Ta hăy nghe lời tựa cho quyển “Hắc Thư Chủ Nghĩa Cộng Sản” về những tội ác của Martin Malia sau đây:
“Chủ nghĩa CS là một sự kiện lớn của thế kỷ 20. Bùng nổ và bước vào lịch sử tại một góc trời không hẳn là Âu Châu, giữa sự tang tóc đau thương của Thế Chiến Thứ Nhất; và sau biến động lớn của thời kỳ 1939–1945, nó tràn về phía Tây đến ngay giữa ḷng nước Đức; và c̣n tiến về phía Đông đến tận bờ biển Trung Hoa. Với kỳ công ấy, CS đă đạt đến tột đỉnh của vận may để thống trị hơn một phần ba nhân loại: hầu như nó ở vào tư thế tiến tới không ngừng trong hơn bảy thập niên; phân thế giới làm hai cực: một bên là những kẻ tin tưởng chủ nghĩa CS là cứu cánh cho xă hội loài người, và một bên là những người nhứt quyết cho rằng CS là một chế độ bạo ngược và chuyên chế nhất trong lịch sử sẽ không tồn tại.
Do đó, người ta có thể trông đợi các sử gia đương thời dành ưu tiên để giải thích thỏa đáng hiện tượng tại sao chủ nghĩa CS, với quyền lực của nó đă tăng trưởng trong thời gian khá lâu, để rồi: “một sớm một chiều, sụp đổ như ngôi nhà làm bằng giấy hàng mă vậy?!”
Trong phần luận về chủ nghĩa CS, ông Werth viết:
“Một nhà nước chống lại nhân dân ḿnh”. Chế độ ấy c̣n là những tổ chức tội phạm ngay trong bản chất: trên nguyên tắc, có thể nói được rằng các chế độ CS cai trị vô pháp luật, theo luật rừng, bằng bạo lực, bằng khủng bố không cần đếm xỉa đến dư luận, đến tính mạng con người.
Qua bản thống kê về tội ác giết người của các chế độ CS Nga, Tàu, Việt Nam như sau:
-
Nga giết khoảng trên mười triệu người (10.000.000)
-
Tàu giết khoảng trên dưới ba mươi triệu (30.000.000)
-
Việt Nam giết khoảng trên dưới hai triệu (2.000.000).
Niềm Bất Hạnh Cho Dân Tộc Việt Nam:
Miền Bắc xuất hiện một Hồ-chí-Minh cùng tập đoàn tay sai cho CS quốc tế tàn sát dân tộc, măi quốc cầu vinh. Th́ miền Nam cũng xuất hiện cái tên Minh (Dương-Văn-Minh) cầm đầu đám tay sai thực dân, phản loạn; cả hai cùng một tên Minh, nhưng phản nghĩa, phản bội, phản quốc hại dân đẩy đưa vận mệnh dân tộc vào tận cùng tang thương, oan nghiệt của ngày 30 tháng 4/75. Kể từ ấy! từ Bắc xuống Nam bị tập đoàn dă thú bọn “chóp bu Bắc Bộ Phủ” hành xử dân tộc trong cái “Quần Đảo Ngục Tù Vĩ Đại” nhất của thế kỷ.
Viết nhân ngày quốc tang 30 tháng 4/75 – 30 tháng 4/09
34 năm dân tộc chưa vứt vành tang tủi nhục.
Trúc-Giang











