
|
|
Công an ngăn chận biểu t́nh phản đối Trung Quốcnhân ngày Sinh viên VN 9-12008.01.10Công an ngăn chận các cuộc biểu t́nh phản đối Trung Quốc của Sinh viên Thanh niên Việt Nam. RFA file photo. Công an Việt Nam được lệnh triển khai trước các cơ sở ngoại giao của Bắc Kinh để ngăn chận các cuộc biểu t́nh chống Trung Quốc nhân Ngày Sinh viên Học sinh Việt Nam 9 tháng 1. Tin từ AFP đánh đi từ Hà Nội cho hay cảnh sát mặc sắc phục và cảnh sát chống biểu t́nh đă được điều động đến bên ng̣ai Ṭa Đại Sứ Trung Quốc tại Hà Nội và lănh sự quán Trung Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh vào sáng sớm ngày hôm qua để ngăn chận các cuộc biểu t́nh chống Trung Quốc do giới thanh niên sinh viên khởi xướng. Từ những ngày trước, trên các blog và các mạng internet đă có lời kêu gọi sinh viên tụ tập tại Ṭa Đại Sứ và ṭa lănh sự Trung Quốc tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để biểu t́nh phản đối việc Trung Quốc chính thức hóa sự sát nhập hai quần đảo Trường Sa và Ḥang Sa của Việt Nam vào huyện đảo Tam sa thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Quốc. AFP cũng nhắc lại là vào những tuần lễ đầu tháng 12, sinh viên Việt Nam đă tổ chức các cuộc biểu t́nh chống Trung Quốc và Hà Nội đă bắt giữ một số sinh viên tranh đấu sau khi có lời phản kháng của Trung Quốc là Việt Nam đă làm ngơ để các cuộc biểu t́nh chống Trung Quốc xảy ra. Ngày sinh viên học sinh 9 tháng Giêng có nguồn gốc từ năm 1950, khi hàng ngàn học sinh, sinh viên của nhiều trường trung học, đại học tại Sài G̣n biểu t́nh đ̣i chính quyền trả tự do cho một số thanh niên bị bắt trước đó vài ngày. Hiệp ước về Biên giới Đất liền Việt Nam-Trung Quốc2008.01.11Nguyễn An, phóng viên đài RFA Trong chương tŕnh “Thời sự trong tuần” kỳ này, biên tập viên Nguyễn An xin gửi đến quư vị một số chi tiết liên quan đến Hiệp ước Biên giới Đất liền Việt Nam - Trung Quốc kư kết vào cuối năm 1999, bắt đầu thực hiện phân giới cắm mốc hai năm sau đó, và dự định sẽ ḥan tất vào giữa năm nay. Đầu năm 2008, tỉnh Lào Cai đă hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên đường biên giới với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Đây là tỉnh đầu tiên trong số các tỉnh sát biên giới với nước láng giềng phương bắc hoàn thành công tác này sau hơn sáu năm làm việc. Theo lời Thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng, chủ nhiệm uỷ ban biên giới quốc gia trong cuộc phỏng vấn dành cho báo Nhân Dân, th́ Việt Nam và Trung Quốc đă khởi động đàm phán về biên giới trên bộ và vịnh Bắc Bộ từ năm 1974. Đến năm 1991, hai bên kư hiệp định tạm thời về vịêc giải quyết các công việc trên vùng biên giới đất liền Việt-Trung. Hai năm sau, lại kư tiếp thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lănh thổ giữa hai nước. Theo thoả thuận này, th́ biên giới trên bộ sẽ phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, cam kết tôn trọng đường biên giới lịch sử theo các công ước Pháp-Thanh 1887 và 1895 để lại. Đến ngày 30 tháng 12 năm 1999, tại thủ đô Hà nội, hai ngoại trửơng Nguyễn Mạnh Cầm của Việt Nam và Đừơng Gia Triền của Trung quốc chính thức kư ‘Hiệp ước biên giới trên đất liền’. Bản hiệp ước này đựơc quốc hội Trung quốc thông qua ngày 29 tháng 4 năm 2000, và quốc hội Việt Nam thông qua ngày 9 tháng 6 cùng năm. Cuối năm 2001, th́ mốc biên giới đầu tiên được cắm tại cửa khẩu Móng Cái thụôc tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam và Đông Hưng thụôc tỉnh Quảng Tây của Trung quốc. Theo kế họach, hai bên sẽ cắm trên 1800 cột mốc, trong đó có 1533 mốc chính và 300 mốc phụ trên ṭan tuyến biên giới dài khỏang 1400km. Theo lời giải thích của thượng tá Lê Đ́nh Tiến, tổ trưởng tổ chuyên viên ban chỉ đạo Phân Giới Cắm Mốc đăng trên báo Lao Động điện tử ngày 31 tháng 12 năm 2007, th́ Mốc phụ là mốc được cắm để dễ nhận biết tại các đọan biên giới nhậy cảm mà theo thỏa thuận là không cắm mốc. Việt Nam có bị mất đất cho Trung Quốc?Mặc dù công tác cắm mốc đă bắt đầu đựơc tiến hành, nhưng vào lúc đó, cụ thể hiệp ước ra sao th́ không ai biết, và liệu Việt Nam có bị mất đất hay không là câu hỏi không ai có thể trả lời chính xác. Chính v́ thế mà vào đầu năm 2001, ông Đỗ Việt Sơn, một đảng viên với 54 năm tuổi đảng đă lên tiếng báo động. Nhà báo Bùi Tín, cựu đại tá quân đội nhân dân nhớ lại: “Ông ấy trước kia là tổ trưởng t́nh báo ở Điện Biên Phủ đấy. Ông ấy chết năm ngóai, Ông ấy nói rơ và ông ấy cũng trao đổi với tôi, bởi v́ ông ấy sống ngay tại Hà nội mà. Ông ấy thu lượm đựơc nhiều tài liệu lắm đấy! Nội dung (bức thư) là ông ấy đ̣i công bố, trên đất liền, cái bản đồ chi tiết, và đặc biệt trên biển, để so sánh với cái hiệp định đời nhà Thanh. Ông ấy nêu lên là tr6n mặt biển mất đến 11.000 cây số vuông đấy, c̣n trên đất liền, gọi là estimation tương đối ấy, th́ mất khỏang 800 cây số vuông.” Sau đó, ngày 18 tháng giêng năm 2001, 26 cử tri gồm nhiều nhân vật đựơc nhiều ngừơi biết đă gửi kháng thư phản đối việc kư kết Hiệp ước 1999. Số người kư tên sau vài tuần lên đến 56 người, theo lời kể lại của ông Bùi Tín: “Dạo ấy có cả Nguyễn Hộ này, cả Hà Sĩ Phu cũng kư vào đấy… Một lọat nhiều lắm, ṭan là những tay đặc đẳng công thần, đảng viên lâu năm cả. Tôi nhớ nhất là ông Nguyễn Trọng Vĩnh, ông ấy nhắc đi nhắc lại cái đó. Trong đó lại có cả ông thứ trưởng công an, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là ông Nguyễn Tài, con ông Nguyễn Công Hoan. Rồi Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương… là kư tất.” Có thể đó là lư do đưa đến cuộc phỏng vấn mà ông Lê Công Phụng dành cho công ty phát triển phần mềm VASC-Orient ở Hà nội ngày 28 tháng giêng cùng năm, trong đó ông khẳng định rằng Việt Nam không có mất hơn 700km2 đất, một lọat cao điểm và hàng chục ngàn km2 biển như tin đồn. Hiệp ước Việt-Trung về biên giới đất liềnGần hai năm sau ngày cắm cột mốc đầu tiên, báo Nhân Dân đă đăng tải một văn bản đựơc giới thiệu là ṭan văn bản hiệp ước về biên giới đất liền Việt Nam-Trung quốc kư hai năm tám tháng trước đó. Bản hiệp ước gồm có phần dẫn nhập và tám điều. Điều một của Hiệp ước viết nguyên văn: “Hai bên kư kết lấy các công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung quốc làm cơ sở, căn cứ vào nguyên tắc luật pháp quốc tế đựơc công nhận cũng như các thỏa thuận đạt đựơc trong quá tŕnh đàm phán về vấn đề biên giới Việt Trung, đă giải qưyết một cách công bằng hợp lư vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.” Các công ước lịch sử nói ở trong điều một này đựơc thứ trưởng ngọai giao lúc đó là ông Lê Công Phụng, cũng là trưởng ban biên giới xác định trong một cuộc phỏng vấn dành cho Thông Tấn Xă Việt Nam hồi đầu năm 2002, là: “Các công ước Pháp-Thanh năm 1887 và 1895, cùng các văn kiện, bản đồ họach định và cắm mốc biên giới kèm theo, cũng như các mốc giới cắm theo quy định để xác định lại đường biên giới trên đất liền.” Phần cuối của điều hai nói nguyên văn rằng, “Đường biên giới trên đất liền được vẽ bằng đường đỏ trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 do hai bên cùng xác định, độ dài và diện tích dùng trong mô tả đường biên giới được do từ bản đồ này. Bộ bản đồ nói trên đính kèm hiệp ước này là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước…” Tuy nhiên, báo Nhân Dân lúc đó đă không công bố bộ bản đồ, và cho đến nay, người dân b́nh thường vẫn không ai đựơc thấy bộ bản đồ ấy, mặc dù nó đựơc chú thích như là “bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước.” Hậu quả của sự kiện này là các nhà nghiên cứu không thể so sánh đừong biên giới mới với đừơng biên giới cũ ấn định tại các bản hiệp ước đă đựơc kư giữa Pháp với nhà Thanh hồi các năm 1887 và 1895, và do đó, không thể nói một cách chính xác là mất đất ở đâu và bao nhiêu, như nhận định của nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn, tác giả cuốn sách dầy gần 900 trang có tựa đề “Biên giới Việt Trung, 1885-2000, lịch sử h́nh thành và những tranh chấp”, do nhà xuất bản Dũng Châu ấn hành tại Pháp năm 2005: “Cái khó khăn của những người làm nghiên cứu hiện nay là, cái bản đồ đính kèm hiệp định kư ngày 30/12/1999 lại chưa đựơc công bố. Chỉ có khi nào đựơc công bố, th́ mới có thể so sánh bản đồ ấy với bản đồ đă kư năm 1887 th́ mới biết nó xê xích thế nào. Bản đồ chính thức chưa công bố th́ không thể nào dựa trên cái ǵ để kết luận chính thức hết.” Ông Lê Công Phụng hồi năm 2001, khi trả lời phóng viên Thông Tấn Xă Việt Nam về tin đồn Việt nam mất khoảng 700km2 đất về Trung quốc, đă khẳng định rằng nguyên văn rằng: “Với tư cách là truởng đ̣an đàm phán cấp chính phủ về biên giới, lănh thổ giữa Vịêt nam và Trung quốc, tôi xin khẳng định tin về việc ta để mất đến 700km2 đất là không đúng và không có cơ sở.” Thứ trưởng ngọai giao Vũ Dũng, trong cuộc phỏng vấn dành cho báo Nhân Dân ngày 02 tháng giêng vừa rồi, cũng tuyên bố rằng “Trong đàm phán với Trung quốc và các nước láng giềng khác cũng như trong quá tŕnh phân giới cắm mốc trên thực địa, chúng ta đều đă thể hiện hết sức rơ ràng lập trường bất di bất dịch, đó là: chủ quyền lănh thổ là vấn đề mang tính nguyên tắc, không thể nhân nhượng. V́ thế, không thể có chuyện “Việt Nam mất đất”, cắt đất, cho nước này nước kia như một số mạng nước ng̣ai đưa tin.” Vẫn theo lời ông Vũ Dũng, th́ “chỉ có thể giải thích rằng những mạng này họặc do thiếu thông tin, họăc cố t́nh làm sai lệch thông tin v́ những ư đồ khác nhau.” Quan điểm của các nhà nghiên cứu lịch sửTheo nhận xét của nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn, th́ mặc dù hiện nay nhà nước Việt Nam chưa công bố bộ bản đồ đi kèm với hiệp định về biên giới trên bộ Việt Nam Trung quốc, nên không thể xác nhận diện tích đă mất là bao nhiêu, nhưng nhà nghiên cứu này đă đưa ra một tài liệu quan trọng, đó là cuốn “T́nh h́nh Trung quốc lấn chiếm lănh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay” do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành tại Hà nội năm 1979. Ông cho biết một bản in của cuốn sách này hiện đựơc tồn trữ tại thư viện quốc hội Hoa kỳ dưới mă số A 87. Trong bài viết mang tựa đề “Từ Trấn Nam Quan ngọai đến Đức Thiên Bộc Bố, thử xét lại yêu cầu của cụ Phạm Quế Dương về Hiệp ước biên giới Việt Trung” viết vào năm 2006, nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn đă trích dẫn những đọan viết sau đây trong cuốn sách vừa nói: Ở trang 8, có đọan văn sau đây : “Lợi-dụng đặc-điểm là núi-sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân-dân hai bên biên-giới vốn có quan-hệ họ-hàng, dân-tộc, phía Trung-Quốc đă đưa dân họ vào những vùng lănh-thổ Việt-Nam để làm ruộng, làm nương, rồi định-cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm-quyền Trung-Quốc ngang-ngược coi những khu-vực đó là lănh-thổ Trung-Quốc”. Cũng ở trang 8, có đưa ra trừong hợp cụ thể như sau : “ Khu-vực Tŕnh-Tường thuộc tỉnh Quảng-Ninh là một thí-dụ điển-h́nh cho kiểu lấn-chiếm đó. Khu-vực này được các văn-bản và các bản-đồ hoạch-định và cắm mốc xác-định rơ-ràng là thuộc lănh-thổ Việt-Nam: đường biên-giới lịch-sử tại đây đi qua một dải núi cao, chỉ rơ làng Tŕnh-Tường và vùng chung-quanh là lănh-thổ Việt-Nam. Trên thực-tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Tŕnh-Tường, những người dân Trung-Quốc sang quá-canh ở Tŕnh-Tường đều đóng thuế cho nhà đương-cục Việt-Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung-Quốc t́m cách nắm số dân sang làm ăn ở Tŕnh-Tường bằng cách cung-cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải, và nhiều hàng khác, đưa họ vào công-xă Đồng-Tâm thuộc huyện Đông-Hưng, khu tự-trị Choang - Quảng-Tây. N䝕à đương-cục Trung-Quốc ngiễm-nhiên biến một vùng lănh-thổ Việt-Nam, dài 6 km, sâu hơn 1.300m thành sở-hữu tập-thể của một công-xă Trung-Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt-Nam đă nhiều đời nay làm ăn sinh-sống ở Tŕnh-Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện-thoại, tự cho phép đi tuần-tra khu-vực này, đơn-phương sửa lại đường biên-gới sang đồi Khâu-Thúc của Việt-Nam. Tiếp đó họ đă gây ra rất nhiều vụ hành-hung, bắt cóc công-an vũ-trang Việt-Nam đi tuần-tra theo đường biên-giới lịch-sử và họ phá-hoại hoa-mầu của nhân-dân địa-phương. » « Tŕnh-Tường không phải là một trường-hợp riêng-lẻ, c̣n đến trên 40 điểm khác mà phía Trung-Quốc tranh-lấn với thủ-đoạn tương-tự như xă Thanh-Loa, huyện Cao-Lộc (mốc 25,26,27) ở Lạng-Sơn, Khẳm-Khau (mốc 17-19), ở Cao-Bằng, Tả-Lũng, Làn-Phù-Ph́n, Minh-Tân (mốc 14) ở Hà-Tuyên, khu-vực xă Nam-Chay (mốc 2-3) ờ Hoàng-Liên-Sơn với chiều dài hơn 4 Km, sâu hơn 1 Km; diện-tích hơn 300 héc-ta. » Sang đến trang 12, lại có đọan viết : « Ở một số địa-phương, do địa-h́nh phức-tạp, điều-kiện sinh-hoạt của dân-cư Trung-Quốc gặp khó-khăn, theo yêu-cầu phía Trung-Quốc, Việt-Nam đă cho Trung-Quốc mượn đường đi lại , cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy của, đặt mồ-mả... trên đất Việt-Nam, họ đă dần-dần mặc-nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung-Quốc. Khu-vực Phia-Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà-Lĩnh, tỉnh Cao-Bằng là điển-h́nh cho kiểu lấn-chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung-Quốc mượn con đường ṃn, rồi tự ư mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại đuợc vào khu-vực mỏ của Trung-Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào thực-tế đó, từ 1956 họ không thừa-nhận đường biên-giới lịch-sử chạy trên đỉnh núi Phia-Un mà đ̣i biên-giới chạy xa về phía Nam con đường, sâu vào đất Việt-Nam trên 500 mét. Lư-lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung-Quốc sao họ có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện-thoại được... Nguyên-nhân chủ-yếu của việc họ lấn chiếm là v́ khu-vực Phia-Un có mỏ măng-gan ». Từ những dẫn chứng vừa nêu, nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn nhận định rằng cho đến nay, không ai biết số phận của những vùng đất đó hiện ra sao, kể cả những vùng đất mà Trung quốc chiếm đóng sau cụôc chiến năm 1979. Ông cũng đi đến kết luận rằng chuyện mất đất là có, nhưng mất bao nhiêu, th́ chưa thể biết đựơc v́ bộ bản đồ đi kèm với Hiệp định biên giới chưa được công bố. Việt Nam có bị mất đất ở khu vựcẢi Nam Quan cho Trung Quốc?2008.01.13 Nguyễn An, phóng viên đài RFABấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này Theo hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, kư vào cuối năm 1999, và dự định sẽ hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên thực địa nội trong năm nay (2008), Việt Nam có mất đất nào ở khu vực Ải Nam Quan hay không? Viên chức chính phủ (Hà Nội) khẳng định là "không", nhưng một số nhà nghiên cứu lại cho là "có”. Biên tập viên Nguyễn An phỏng vấn nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn về vấn đề này. Ông Tuấn là tác giả cuốn sách "Biên giới Việt - Trung, 1885-2000, Lịch sử thành h́nh và những tranh chấp" do Nhà Xuât Bản Diễm Châu ấn hành tại Pháp năm 2005. Xin được nhắc là ư kiến của ông Trương Nhân Tuấn không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đài Á Châu Tự Do. . . .
Trên đây là trích đoạn kịch thơ "Hận Nam Quan" của thi sĩ Hoàng Cầm mô tả cuộc chia tay bi hùng giữa Nguyễn Phi Khanh và con trai là Nguyễn Trăi tại Ải Nam Quan khi Phi Khanh bị quân Minh bắt đưa về Trung Quốc. Liệu điểm chia tay vào đầu thế kỷ XV đó, nay thuộc về Việt Nam hay Trung Quốc? Mời quư vị theo dơi cuộc trao đổi giữa biên tập viên Nguyễn An (Ban Việt Ngũ Đài Á Châu Tự Do) và nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn, sau đây: Nguyễn An : Kính chào nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn. Trước hết tôi xin ông nói rơ về nội dung của cụm từ Ải Nam Quan. Đó là một khu vực hay là một kiến trúc, hay là một con đường? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ, kính chào nhà báo Nguyễn An. Cũng xin kính chào quư vị thính giả. Về ư nghĩa của cụm từ Ải Nam Quan, th́ nếu ḿnh gọi đây là một khu vực, hay là một kiến trúc, hay là một con đường, theo tôi th́ tất cả đều đúng hết. Tôi xin phép được giải thích. Trước năm 1885, đó chỉ là hai cánh cửa làm bằng gỗ thôi, có chạm trổ rồng phượng ở trên đó. Về sau, khi chiến tranh với Pháp năm 1885 th́ cánh cửa đó bị giật sập, và họ mới xây dựng lại một kiến trúc mà chúng ta thấy ngày hôm nay đó, được xây từ 1885 đến 1887. Ḿnh thấy kiến trúc đó rất là đồ sộ. Và ḿnh cũng có thể gọi đó là một con đường để chúng ta liên tưởng tới cái "ải" như một cái "pass" (tiếng Pháp, hay tiếng Anh). Thành thử nếu ḿnh gọi đó là một con đường cũng đúng thôi đó anh à. Nguyễn An : Thưa, từ trước tới nay khi nói đến đất nước Việt Nam kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, th́ chứ "Ải Nam Quan" đó chính là kiến trúc mà ông vừa mới nói có phải không? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ. Theo tôi nghĩ, đúng là như vậy. Vào thời Nhà Thanh th́ hành chánh họ gọi những cửa ải là "thủ tạp”, tức là nơi để họ thu thuế. Cho nên phía bên này cái cửa là của Việt Nam, phía bên kia cái cửa là của người Hoa. Ḿnh nói từ "Ải Nam Quan" đến "Mũi Cà Mau" th́ cũng đúng thôi. Nhưng nếu ḿnh nói đúng từ ngữ nguyên thuỷ của Việt Nam để chỉ cái ải đó, th́ nếu ḿnh nói đó là "Nam Quan", th́ tôi nghĩ rằng đó một vấn đề thuộc về lịch sử. Nguyễn An : Trước kia ông Lê Công Phụng và mới đây ông Vũ Dũng, cả hai đều là Thứ Trưởng Ngoại Giao và là Chủ Nhiệm Uỷ Ban Biên Giới Quốc Gia, đều nói rằng đường biên giới luôn luôn là phía Nam của Ải Nam Quan, hiểu như một kiến trúc do Trung Quốc xây dựng. Ư kiến của ông như thế nào? Ông Trương Nhân Tuấn : Tôi nghĩ hai lời tuyên bố của hai vị này, chúng ta cũng hiểu một cách tương đối thoi, là nếu mà chúng ta tính từ năm 1887, từ ngày 26-6-1887, tức là từ ngày có Công Ước Pháp - Thanh, và sau đó tới năm 1897 tức năm chấm dứt công tŕnh cắm mốc, nói đường biên giới là ở phía Nam của cái ải đó th́ đúng, của kiến trúc đó th́ đúng, không có ǵ sai. Nhưng, trước khoảng thời điểm đó th́ chưa chắc. Nếu đứng trên quan điểm người Việt Nam ḿnh th́ đường biên giớí trước năm 1887 phải tính là ngang cái cửa ải. Nguyễn An : Thưa, nhưng mà theo hiệp định mà Pháp kư với Nhà Thanh năm 1887 và năm 1895 th́ đường biên giơís xích xuống phía Nam của Ải Nam Quan, có phải không? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ. Dạ, thưa phải. Nguyễn An : Và nếu trong trường hợp mà hiệp định bây giờ (1999) mà căn cứ theo hiệp định đă kư, đă có rồi, th́ cũng phải coi như là cái đường biên giới đó năm ở phía Nam của Ải Nam Quan? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ, đúng như vậy. Nhưng cái quan trọng là... Nguyễn An : Thưa ông, như vậy là hai ông Lê Công Phụng và Vũ Dũng đă nói đúng về điều này? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ thưa đúng. Nguyễn An : Dạ thưa, nhưng mà cái vấn đề là đă nằm phía Nam là đúng th́ cái khoảng cách nó như thế nào? Ông Trương Nhân Tuấn : À, cái đó mới là cái vấn đề. Vậy th́ nó nằm phía Nam nhưng mà ḿnh đâu có biết nó nằm phía Nam cách cổng là bao nhiêu? Sự khó khăn của những người làm nghiên cứu hiện nay là cái bộ bản đồ đi kèm với hiệp ước biên giới kư vào tháng 12 năm 1999 th́ (Hà Nội) chưa có công bố. Chỉ khi nào (bản đồ này) được công bố mới so sánh bộ bản đồ năm 1999 với bộ bản đồ năm 1887 ở cái điểm Nam Quan th́ chúng ta mới biết nó xê xích như thế nào. Nhưng mà có một số tài liệu cho biết vùng Nam Quan này đă bị dời về phía Nam so với Công Ước năm 1887. Cái vấn đề dời đó (th́) có hai điểm dời: (1) Điểm nối đường rầy (xe lửa) cũng ở gần vùng Nam Quan đó, gần Ải Nam Quan đó, th́ vùng đó bị dời khoảng 300 thước (mét) về phía Nam, và (2) con đường có Ải Nam Quan đó, theo Công Ước năm 1887, cột mốc trên con đường đó tên là Trấn Nam Quan Ngoại, được cắm ở phía Nam của kiến trúc (tức Ải Nam Quan), cách kiến trúc 100 mét. Cũng theo một số tài liệu ở trong nước đưa ra, hay là một số tài liệu của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đă công bố trước đó, th́ ḿnh thấy cột mốc đó đă bị dời về phía Nam. Nó đă bị phá đi và dời về phía Nam vài trăm mét, nhưng mà ḿnh không biết chính xác là bao nhiêu trăm mét. Nguyễn An : Nhưng mà lúc đầu th́ là 100 mét phải không ạ? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ. Ban đầu theo Công Ước 1887 là cột mốc đó mang số 18, cắm cách cổng 100 mét về phía Nam, trên con đường từ Nam Quan về Đồng Đăng. Nguyễn An : Nếu như vậy th́ bây giờ ḿnh coi đó là 100 mét, là biên giới đúng đí, th́ bây giờ nó dời bao xa về phía Nam? Ông Trương Nhân Tuấn : Điểm đó ḿnh chưa có thể xác định được, thưa anh, tại v́ cái bản đồ biên giới chính thức (1999) chưa công bố. Nhưng mà theo một số tài liệu th́ dời khoảng vài trăm mét, có thể 300, 400 mét. Nguyễn An : Bây giờ cái khoảng mà cái hiệu số giữa số đó và cái 100 mét ban đầu th́ có thể coi như là lănh thổ của Việt Nam bị mất về Trung Quốc, phải không? Quyển sách đó nói về t́nh h́nh biên giới giữa Việt Nam với lại Trung Quốc, th́ trong đó Việt Nam tố cáo là Trung Quốc, đặc biệt tại điểm Nam Quan, là phía Việt Nam tố cáo rằng phía Trung Quốc ủi nát cột mốc biên giới số 18, cách cửa Nam Quan 18 mét trên đường Quốc Lộ, để xoá vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột mốc Kilomét 0 vào sâu lănh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này. Trong tài liệu này nói rằng "trên 100 mét" th́ ḿnh không biết "trên 100 mét" là bao nhiêu, v́ 200 mét cũng là "trên 100 mét". Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ thưa đúng vậy. Đó là ḿnh bị mất đó. Và không hẳn chỉ có ở Nam Quan mà thôi đâu. Nguyễn An : Hồi năy ông có nói rằng có nhiều nguồn (Trương Nhân Tuấn : Dạ) để nói về chuyện di chuyển đường biên giới về phía Nam của Ải Nam Quan (Trưong Nhân Tuấn : Dạ), th́ bây giờ nguồn thứ nhất như ông vừa nói, tức là dời vào khoảng vài trăm mét (Trương Nhân Tuấn : Dạ), thế bây giờ c̣n nguồn nào khác liên quan đến đường biên giới ở chỗ Ải Nam Quan đó không? Ông Trương Nhân Tuấn : Tôi th́ tôi có một số tài liệu từ trong nước gửi qua. Những tài liệu đó không thể nào gọi đó là tài liệu chính thức được, tại v́ cái hiệp ước đó chưa công bố. Nhưng mà tôi có tài liệu chính thức của nhà nước cộng sản Việt Nam công bố năm 1979. Quyển sách đó nói về t́nh h́nh biên giới giữa Việt Nam với lại Trung Quốc, th́ trong đó Việt Nam tố cáo là Trung Quốc, đặc biệt tại điểm Nam Quan, là phía Việt Nam tố cáo rằng phía Trung Quốc ủi nát cột mốc biên giới số 18, cách cửa Nam Quan 18 mét trên đường Quốc Lộ, để xoá vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột mốc Kilomét 0 vào sâu lănh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này. Trong tài liệu này nói rằng "trên 100 mét" th́ ḿnh không biết "trên 100 mét" là bao nhiêu, v́ 200 mét cũng là "trên 100 mét". Nhưng mà có một tài liệu mới đây, tức là bản đồ khu vực 249C, tức là khu vực Hữu Nghị Quan, th́ tôi có đo và so sánh, tôi nghĩ là mất khoảng 300 mét, từ cột mốc 18 cũ cho đến đường biên giới mới, tức là từ biên giới cũ cho đến biên giới mới, dời về phía Nam khoảng 300 mét. Nguyễn An : Dạ thưa, nhưng mà về cái mất th́ bây giờ không có bằng cớ nào để có thể khẳng định được, có phải không? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ thưa không. Chính thức th́ ḿnh không thể nào khẳng định được, tại v́ cái bản đồ chính thức chưa công bố mà. Ḿnh đâu có thể nào, ḿnh dựa trên căn bảo nào, ḿnh khôngcó căn bản để ḿnh dựa lên đó để có kết luận hết. Nguyễn An : Thưa, như vậy chúng ta sẽ phải chờ cho đến bao giờ mà nhà nước Việt Nam công bố cái bản đồ đó? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ thưa, đúng vậy. Nguyễn An : Mà đó là bộ phận không thể tách rời được của hiệp định? Nhưng mà hiệp định th́ (Hà Nôi)j cho biết rồi, nhưng bản đồ th́ chưa có? Dạ, xin cảm ơn nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn ạ. Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ, cảm ơn ông Nguyễn An. Vừa rồi là cuộc trao đổi giữa biên tập viên Nguyễn An (Ban Việt Ngũ Đài Á Châu Tự Do) vớí nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn, hiện đang sống và làm việc tại Pháp, về vấn đề theo Hiệp Định Biên Giới Trên Đất Liền Giữa Việt Nam và Trung Quốc (kư tại Hà Nội ngày 30 tháng 12 năm 1999) th́ Việt Nam có mất phần đất nào ở khu vực Ải Nam Quan hay không. Xin được nhắc lại là ư kiến của ông Trương Nhân Tuấn không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đài Á Châu Tự Do. Vấn đề Thác Bản Giốc trong hiệp ước biên giới Việt-Trung2008.01.13 Nguyễn An, phóng viên đài RFA Theo hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, kư vào cuối năm 1999, và dự định sẽ hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên thực địa nội trong năm nay (2008), Việt Nam có mất phần nào tại thác Bản Giốc ở Cao Bằng hay không? Các viên chức chính phủ (Hà Nội) khẳng định là "không", nhưng một số nhà nghiên cứu lại cho là "có”. Biên tập viên Nguyễn An của Ban Việt Ngữ (Đài Á Châu Tự Do) phỏng vấn nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn về vấn đề này. Ông Tuấn là tác giả cuốn sách "Biên giới Việt - Trung, 1885-2000, Lịch sử thành h́nh và những tranh chấp" do Nhà Xuât Bản Diễm Châu ấn hành tại Pháp vào năm 2005. Xin được nhắc rằng ư kiến của ông Trương Nhân Tuấn không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đài Á Châu Tự Do. Nguyễn An: Xin chào nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn. Trước hết th́ có lẽ xin ông nói sơ lược về vị trí và đặc điểm của Thác Bản Giốc ạ. Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ thưa ông Nguyễn An. Thác Bản Giốc mà chúng ta nói ở đây là chúng ta chỉ nói trên bản đồ, trên tài liệu. Thác Bản Giốc ở về phía Đông-Bắc của Phủ Trùng Khánh (tỉnh Cao Bằng). Thác này nằm ở trên con sông gọi là Sông Quy Xuân, hay là Quy Thuận, hay là Quây Sơn. Thác Bản Giốc là một loại thác nước bậc thềm, cao vào khoảng 40-50 thước (mét). Đây là một cái thác rất là đẹp. Cũng theo tài liệu của Sở Địa Dư của Pháp th́ Thác Bản Giốc này cùng với vùng chung quanh là một thắng cảnh tuyệt đẹp của Miền Bắc. Nguyễn An: Thưa ông, theo như chúng tôi biết th́ ông có một số công tŕnh chững minh rằng Thác Bản Giốc trước kia hoàn toàn thuộc về Việt Nam. Bây giờ xin ông tóm tắt những luận điểm mà ông đă sử dụng. Ông Trương Nhân Tuấn : Vâng. Thưa, có một số tài liệu, nhưng mà tôi xin trích ra những tài liệu chánh. Ba tài liệu này khó có thể phản biện được. Tài liệu thứ nhứt là tài liệu của ông Trung Uư Détrie là người phụ trách đi cắm mốc (1894). Ông này xác định Thác Bản Giốc ở gần cột mốc số 53. Trên bản đồ th́ đoạn ngắn con sông làm thành đường biên giới là từ cột mốc số 51 đến số 52. Tài liệu thứ hai là của ông Commandant Famin. Ông này viết thành một quyển sách và được in ra. Quyển sách này được tồn trữ tại các thư viện lớn ở bên Pháp cũng như ở các nước khác. Theo ông Commandant Famin th́ Thác Bản Giốc thuộc về Việt Nam và cách đường biên giới khoảng 2 kilomet. (Nguyễn An: Thưa, kilomet ạ?). Dạ, cách Thác Bản Giốc 2 kilomet. Tài liệu thứ ba là tài liệu của nhà nước cộng sản Việt Nam đă công bố vào năm 1979 [*]. Tôi xin phép đọc phần này. Nguyễn An: Dạ vâng. Xin mời ông. Ông Trương Nhân Tuấn : Nơi cuối trang 11, tài liệu viết như thế này : "Trên đoạn biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên biên giới đi theo sông suối, tại nhiều nới, phía Trung Quốc đă tự tiện mở rộng xây dựng các công tŕnh để từng bước xâm lấn đất. Tại khu vực môc số 53 (xă Dàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam. . ." Ở đây tôi xin mở dấu ngoặc, đó là chính nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cũng khẳng định: “ . .thác Bản Giốc từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đă công nhận sự thật đó. . .". Đây là điều mà ḿnh cần phải nhấn mạnh: ". . .Ngày 29 tháng 12 năm 1976, phía Trung Quốc đă huy động trên 2000 người,(tiếp theo sang trang 12) kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố pḥng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lănh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt cắt ngang qua nhánh sông biên giới. . ." Đó là họ làm như vậy để họ giành Thác Bản Giốc về phía họ. Nguyễn An: Nhưng mà trước khi họ giành đó th́ cả hai bên đều công nhận rằng Thác Bản Giốc là của Việt Nam ? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ. Đúng như vậy. Nguyễn An: Dạ vâng. Ông Trương Nhân Tuấn : Và vào năm 1953, trước đó, cũng trong tài liệu này, cũng đă tố cáo là nhà nước cộng sản Việt Nam có nhờ nhà nước cộng sản Trung Quốc in giùm một bộ bản đồ, th́ lợi dụng vụ in này nhà nước Trung Quốc đă sửa đổi đường biên giới để giành lấy Thác Bản Giốc của Việt Nam. Nguyễn An: Dạ thưa, vừa rồi ông có nói 3 tài liệu mà ông dựa vào để chứng minh rằng Thác Bản Giốc trước kia hoàn toàn là của Việt Nam? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ. Nguyễn An: Dạ, thưa ông, nhưng mà ông Lê Công Phụng th́ ông ấy nói rằng theo tài liệu cũ th́ Việt Nam chỉ có 1/3 thác, thế khi hai bên thảo luận với nhau để kư hiệp ước biên giới trên bộ vào năm 1999 th́ mỗi bên được một nửa. Như vậy phải chăng ngay dù một nửa như thế th́ cũng có nghĩa là Việt Nam đă mất một nửa, và cái khoảng 2 cây số (2 kilomet) cách đường biên giới giống như hồi năy ông nói, có phải không? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ, tôi đă đọc tài liệu của ông Lê Công Phụng từ lâu (2002). Khi ông Lê Công Phụng nói "theo tài liệu cũ th́ Việt Nam chỉ có 1/3 thác", ḿnh nhiều khi ḿnh cũng ṭ ṃ muốn hỏi, sẵn đây muốn hỏi ông Lê Công Phụng răng ông coi tài liệu cũ đó là tài liệu nào? Theo ông Lê Công Phụng, ông nói cột mốc số 53 được cắm ở trên một cái cồn nhỏ ở giữa suối, tức ở giữa con sông này. Nhưng mà điều này hoàn toàn sai nếu chúng ta so sánh với lại biên bản phân định biên giớí của Pháp, th́.. Nguyễn An: Của Pháp và Nhà Thanh, tức là cái biên bản mà ông cho rằng là tài liệu gốc có phải không ạ? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ, đúng rồi. Cái tài liệu đó là cái tài liệu gốc kư kết giữa ông Đại Tá Galliéni với ông Thái Hy Vân, năm 1894, th́ cột mốc ở tại vùng Bản Giốc đó nó mang số 53 và cái tên của nó ở đó gọi là "Nga Khẩu". Nó được cắm ở bên lề một con đường cạnh một khu rừng. Và trong biên bản của người Hoa th́ họ ghi thêm một chi tiết nữa là "ở dưới chân một ngọn núi". Như vậy th́ ông Lê Công Phụng đă hoàn toàn nói sai khi ông ta mô tả vị trí cột mốc ở Thác Bản Giốc. Nguyễn An: Ổng mô tả đúng th́ cột mốc đó sai, có phải không? Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ thưa, tôi không có nghĩ vậy. Tôi nghĩ là cột mốc đó có thể là nó đă từ bên lế con đường, ở dưới chân ngọn núi và bên lề con đường, rồi có người nào đó đem xuống cắm ở dưới suối, đó là một giả thuyết. Mà cho dù như thế nào đi chăng nữa th́ cột mốc số 53 là hoàn toàn không đúng ở vị trí mà ông Lê Công Phụng đă mô tả. Nguyễn An: Dạ vâng. Thưa ông, bây giờ để kết luận vấn đề này, xin phép được hỏi ông là riêng với Thác Bản Giốc th́ Việt Nam có mất một phần lănh thổ cho Trung Quốc hay không? C̣n nếu có th́ mất từ bao giờ và bao nhiêu? Ông Trương Nhân Tuấn : Điều này ḿnh có thể khẳng định, khẳng định tại v́ qua cái lời tuyên bố của các viên chức chịu trách nhiệm về cắm mốc, tức là ông Lê Công Phụng hay là ông Vũ Dũng ngày hôm nay. Ḿnh có thể kết luận rằng vùng Thác Bản Giốc của Việt Nam đă bị mất. Và cũng xin mở dấu ngoặc là Thác Bản Giốc này mặc dù là (Hà Nội) chưa công bố bản đồ, tức là không ai biết cái Thác Bản Giốc này trên bản đồ (đính kèm hiệp ước biên giới năm 1999), nhưng mà phía bên Trung Quốc đă cho tổ chức đi du lịch ở vùng này và họ gọi cái thác Bản Giốc là Đức Thiên Mộc Bố (Thác Đức Thiên). Thành thử nếu bên Trung Quốc đă (Nguyễn An: Quảng cáo du lịch rồi) dạ, đă quản lư phân nửa cái thác đó rồi, cho nên ḿnh có thể khẳng định rằng cái vùng này đă được phân giới và ở cái vùng này th́ Việt Nam bị mất phân nửa Thác Bản Giốc và một phần đất rất là lớn chưa xác định được, tại v́ theo những tài liệu ngày xưa th́ thác này nằm sâu trong lănh thổ Việt Nam, ít nhất là 2 cây số. Nguyễn An: Dạ vâng. Như vậy th́ nếu trong trường hợp trong tương lai mà nhà nước Việt Nam phổ biên cái bản đồ chính thức th́ chúng ta sẽ biết được là mất bao nhiêu diện tích lănh thổ Việt Nam. Nhưng mà bây giờ chúng ta tạm thời có thể kết luận về Thác Bản Giốc rơ ràng là có mất. Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ. Nguyễn An: Dạ vâng. Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn. Ông Trương Nhân Tuấn : Dạ. Xin cảm ơn nhà báo Nguyễn An.
Không Quên Bạn TùKhông Quên Đồng Bào Đau Khổ |
|