
|
|
Những Hùng Văn Trong Việt Sử GS Nguyễn Xuân Vinh
Dẫn
nhập:
Cách đây vài năm, một duyên tao ngộ nữa lại đến với tôi, v́ trong chuyến thăm viếng Úc châu do lời mời của Tập Thể CSVNCH Úc châu và ông Chủ tịch Cộng Đồng NVTD New South Wales, tôi lại được dự một buổi Tâm Đàm với thế hệ Hậu duệ của lớp người Việt tỵ nạn cộng sản. Nam bán cầu lúc đó đang đi vào mùa hè, trời bên ngoài nóng tới trên 1000 F, mà trong pḥng họp của Trung Tâm Văn Hoá và Sinh Hoạt Cộng Đồng tại Bonnyrigg ở ngoại ô của thành phố Sydney, theo các báo địa phương sau này loan tin tức, vào buổi chiều ngày thứ Bảy 27/11/2004, khi tôi tới nói chuyện, đă có hơn 500 nguời đồng hương tham dự.
Trong phần mở đầu, khi ban tổ chức giới thiệu thành phần Hậu duệ ṇng cốt của Tiểu bang New South Wales, những bạn trẻ là những người đầu tiên ghi danh để thành lập tổ chức, có 16 người th́ hầu hết là các chuyên gia như bác sĩ, luật sư, kỹ sư, …những người đă từng giữ những chức vụ lănh đạo như chủ tịch hay phó chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do/NSW. Một đại diện hậu duệ, cũng là cựu Nghị viên Hội Đồng Thành Phố Bankstown, trong phần phát biểu mở đầu, đă nói: “Tập Thể Hậu Duệ Trung Tâm Úc Châu chúng tôi kêu gọi sự tham gia sinh hoạt đông đảo của các bạn để chúng ta có thể tiếp sức và nối tiếp truyền thống hào hùng của Thế Hệ đi trước”. V́ là một buổi tâm đàm nên bài nói chuyện của tôi không cần soạn trước và để bắt đầu câu chuyện tôi đă dựa theo lời nói của anh đại diện Hậu duệ mà nhắc lại một bài thơ chữ Hán của giáo sư Lê Hoà là người bạn từ Tây Đức đă gửi cho tôi nhiều năm trước đây. Bài thơ gợi t́nh nhớ nước có hai câu hợp với hiện cảnh là:
có ngụ ư là đất nước chúng ta tiền nhân đă để lại bao di tích oai hùng trong công cuộc xây dựng đất nước mà sao giờ đây, giang sơn cần đến những người có tài năng để cứu nước th́ những người con ưu tú hiện nay ở phương nào chưa thấy lại? Nh́n trong hậu trường ngày hôm đó, các bạn trẻ mới vào tuổi trên dưới ba mươi, trưởng thành trên xứ người mà nhiều bạn đă đạt được những thành tích xuất sắc. Những bạn trẻ khi được giới thiệu ra tŕnh diện, có những gương mặt quen thuộc với người đồng hương v́ đă từng là Chủ tịch hay Phó Chủ tịch Cộng Đồng NVTD, những chức vụ được người đồng hương tín nhiệm bầu vào. Nh́n thấy những hiền tài của đất nước, giờ đây sẵn sàng nhập cuộc, để các bạn biết đến những gương sáng đời xưa, tôi đă nói về những chiến tích của tiền nhân qua mấy ngàn năm ǵn giữ đất đai, mà cũng tiếc hận cho giờ đây non sông gấm vóc của chúng ta đă bị những người cộng sản cầm quyền dâng đất, nhượng biển cho Trung cộng.
Những ǵ
tôi chỉ nói vắn tắt tại những buổi nói chuyện v́ thời gian có hạn,
nay tôi viết lại ở đây để thân tặng những bạn trẻ chuyên gia, tuy đă
thành đạt trên nước người nhưng ḷng vẫn hướng về dặm ngh́n đất tổ
xa vời, mong được có ngày nh́n lại trong khung cảnh tự do, thanh
b́nh và thịnh vượng.
Để bắt đầu cuộc xâm lăng và thống trị, Vua Hán Vũ Đế cho Phục Ba
tuớng quân là Lộ Bác Đức đem 5 đạo quân hùng mạnh sang đánh chiếm
nước ta, lúc đó có tên là Nam Việt. Năm ấy là năm Canh Ngọ và nuớc
Nam Việt bị người Tàu chiếm lấy, cải là Giao Chỉ bộ, chia làm 9
quận, và đặt quan cai trị như các châu quận bên Tàu. Từ đó bắt đầu
cuộc nổi dậy dành lại đất đai, giang sơn gấm vóc của người dân Việt,
theo truyền thuyết được coi như là gịng giống con Rồng cháu Tiên.
Trong cuộc chiến đấu trường kỳ này để chống lại sự xâm lăng từ
phương Bắc, đă nhiều lần có những bản văn kiệt tác, hay những tiếng
nói hào hùng, được ghi lại trong Việt sử. Dưới đây tôi nhắc lại một
cách tiêu biểu một số những hùng văn đă làm chúng ta tự hào.
Năm Giáp Ngọ (34), vua Quang Vũ nhà Hán sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao Chỉ. Là người bạo ngược tàn ác, dùng đường lối sắt máu để cai trị, năm 40 Tô Định lại giết ông Thi Sách và gây thêm nỗi oán giận cho người dân. Vợ ông Thi Sách là bà Trưng Trắc, cùng với em gái là Trưng Nhị nổi lên đưa quân về đánh Tô Định phải trốn chạy và cùng với người dân nơi nơi vùng lên dẹp được 65 thành tŕ. Hai bà lên ngôi vua và đóng đô ở Mê Linh là nơi quê nhà. Năm Tân Sửu (41) vua Quang Vũ sai Mă Viện làm Phục Ba tướng quân đưa một đạo quân hùng mạnh sang đánh Trưng Vương. Mă Viện là một danh tướng nhà Đông Hán, tuy tuổi đă cao nhưng vẫn c̣n oai vũ, đưa quân dọc theo miền bể, phá rừng đào núi làm đường sạn đạo tới Lạng Bạc, gặp quân của hai Bà, đánh thắng mấy trận và dồn quân ta về Cẩm Khê. Mă Viện lại tiến quân lên đánh tiếp, hai Bà thua chạy về đến xă Hát Môn, nay thuộc địa hạt tỉnh Sơn Tây, gặp thế cùng cả hai chị em cùng gieo ḿnh xuống sông Hát Giang mà tuẫn quốc, năm 43, để cho đến nay gần hai ngàn năm sau, vẫn được dân Việt đời đời thờ phụng. Mă Viện đánh được Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ thuộc về nhà Hán và dựng một cây cột đồng ở chỗ phân địa giới, trên có khắc sáu chữ:
có nghĩa là cây cột đồng mà đổ th́ người Giao Chỉ mất ṇi. Theo trong dă sử chép lại th́ người Giao Chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân đồng trụ một ḥn đá cho nên chỗ ấy về sau thành như một quả núi phủ kín cột đồng làm biến mất di tích. Trải qua nhiều thế kỷ, trong sự giao thiệp với Trung quốc, người Tầu nhiều khi c̣n nhắc đến cột đồng mà người ḿnh muốn quên. Đời nhà Lê, từ khi vua Lê Lợi khởi nghĩa dẹp được quân Minh đem lại giang sơn cho nước nhà, những đời vua kế tiếp luôn luôn lấy sự ǵn giữ đất đai là hệ trọng. Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) có lần đă bảo với triều thần rằng:
Năm 1597, đời vua Lê Thế Tông, Công bộ Tả thị lang Phùng Khắc Khoan, là người văn hay chữ tốt, người dân gọi là ông Trạng Bùng, được chúa Trịnh cử sang Trung Quốc cầu phong cho vua Lê với nhà Minh. Vua quan nhà Minh bên Tàu, tuy vẫn muốn xâm chiếm nước Nam, nhưng c̣n nhớ đến sức kháng chiến của dân Đại Việt trong thời gian B́nh Định Vương Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, nên chỉ làm khó dễ nước ta về mặt ngoại giao, đặt lệ bắt mỗi ba năm phải cho sứ thần sang triều cống một lần. Trong cuộc giao tiếp, sứ thần nước ta được quan Tàu ra câu đối nhắc lại chuyện cột đồng kỷ niệm chiến thắng của Mă Viện với giọng điệu cao ngạo:
nghĩa là cột đồng cho đến nay rêu vẫn chưa xanh. Nhưng sứ thần ta là ông Trạng Bùng là người tinh thông sử Việt nên nhớ đén những chiến thắng của ta trên sông Bạch Đằng. Năm Mậu Kỷ (938), vua Nam Hán, theo lời yêu cầu của Việt gian Kiều Công Tiễn, sai thái tử Hoàng Thao sang đánh Giao châu. Ông Ngô Quyền bắt giết Kiều Công Tiễn làm lễ tế cờ và truyền hịch cho quân sĩ phải hết sức pḥng bị rồi cắm cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, phục binh đánh một trận thủy chiến diệt chiến thuyền của quân Nam Hán, quân Hoàng Thao bị chết quá nửa, chủ tướng cũng bị bắt giết. Sau đó 350 năm, lịch sử lại tiếp diễn. Cũng trên Bạch Đằng Giang, vào tháng Ba năm Mậu Tí (1288), Hưng Đạo Vương đă đại phá quân nhà Nguyên máu loang đỏ cả khúc sông. Bạch Đằng Giang nay thuôc huyện Thụy Nguyên, tỉnh Kiến An. Để đối lại với câu xướng của quan Tàu đă vô lễ xấc xược, sứ thần nước ta đă viết lại vế thứ hai với bẩy chữ như những gai nhọn sói vào tim óc đối phuơng:
Câu này có nghĩa là sông Đằng từ xưa máu c̣n đỏ thắm. Thật là một
câu ngắn nhưng đối chọi rất chỉnh và đă nói lên niềm tự hào của dân
tộc về những chiến tích oanh liệt của tiền nhân trên sông Bạch Đằng.
Bốn câu thơ có nghĩa là núi sông của nước Nam, sách trời đă định là
thuộc về vua nước Nam. Nếu quân cướp định xâm phạm th́ thế nào cũng
bị thảm bại. Quân lính nghe mấy câu thơ ai nấy đều nức ḷng cự địch.
Tám vạn quân sĩ nhà Tống sang xâm lăng, gặp nơi chướng địa, đánh măi
không nổi, dần dà chết quá nửa, sau cùng vua nhà Tống đành phải
giảng hoà lui binh.
Hưng Đạo Vương khảng khái tâu rằng:
Câu nói này của vị Nguyên Soái nay là những lời vàng ngọc trong Việt sử. Hưng Đạo Vương chiêu tập quân các đạo, hội tại Vạn Kiếp được hơn 20 vạn quân, khí thế hăng say. Là một thiên tài văn vơ, được người đời sau thờ phụng tôn là Đức Thánh Trần, ông soạn ra một quyển “Binh Thư Yếu Lược” rồi truyền hịch khuyên răn các tướng sĩ. Tờ hịch, viết bằng Hán văn, nay dịch ra quốc âm, cũng thật là một áng hùng văn trong quân sử nước nhà. Trước hết Vương kể lại những chuyện nhân thần dũng sĩ ngày xưa đă sả thân cứu chúa, bảo vệ non sông, trong đó có những câu:
Vương cũng công nhận là các vị tướng chỉ quen luyện kiếm cung mà không thông hiểu chuyện ngày xưa:
Để kích thích ḷng yêu nước của quân sĩ, Vương tả nỗi nhục nhằn căm phẫn khi nh́n thấy người ngoại bang khi dể vua tôi nhà Trần:
Đọc những câu trên ta thấy ngay là Vương có đức độ của một vị nguyên soái, biết lo cho nhu cầu của quân sĩ, vui vẻ và hoạn nạn cùng nhau chia sẻ. Những cấp chỉ huy khi xưa cũng có những người hủ hoá, mê cờ bạc, gái đẹp rượu ngon, thú chọi gà, săn bắn. V́ vậy Hưng Đạo Vương cảnh giác:
Một bản hùng văn, khi đọc lên nghe thôi thúc ḷng quân dân, thật có sức mạnh như cả một đạo quân tinh nhuệ. Các tướng sĩ nghe được lời khuyên răn, ai nấy đều nức ḷng đánh giặc. Người nào cũng lấy mực thích vào cánh tay hai chữ “Sát Đát”, nghĩa là giết quân Mông Cổ. Việt sử nay c̣n ghi chép, trong trận đánh ở Thiên Trường, dũng tướng nhà Trần là Trần B́nh Trọng bị quân Nguyên vây bắt được. Thái Tử Thoát Hoan thấy B́nh Trọng là người oai dũng nên dỗ dành ông đầu hàng và phong cho quan chức. Trần B́nh Trọng đă trả lời, một câu nói oai hùng nay đă được ghi bằng những nét vàng son trong quân sử:
Một Vương công nhà Trần là Thượng Tướng quân Trần Quang Khải, không những là một vị tướng oai dũng, mà c̣n là một văn tài của đất nước. Ông đă có công chặn được cánh quân đánh ṿng phía Nam của Toa Đô không cho dùng đường bộ từ Chiêm Thành kéo qua Nghệ An để đi về phương Bắc. Toa Đô đành phải cùng với Ô Mă Nhi xuống thuyền dùng đuờng bể ra ngoài Bắc để hợp binh với Chủ tướng Thoát Hoan. Nhưng quân của Toa Đô đă gặp đường xá gập ghềnh, trắc trở khi qua những vùng Ô-Lư (Thuận Hoá) và những châu Hoan, Ái (Nghệ An, Thanh Hoá) bị quân của Trần Quang Khải ngăn chặn, nay lại phải vượt bể ra Bắc, sức lực mỏi mệt nên khi chiến thuyền vừa tới cửa Hàm Tử, thuộc tỉnh Hưng Yên th́ bị 5 vạn quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chờ sẵn đánh một trận làm cho thất đảm kinh hoàng, quân Nguyên chết hại rất nhiều. Thượng Tướng Trần Quang Khải, lúc đó ở Nghệ An ra, được tin thắng trận Hàm Tử Quan liền xin với vua Trần Nhân Tông cho ḿnh được tiến binh đánh thẳng vào Thăng Long là kinh thành lúc đó đang bị đại quân của Thoát Hoan chiếm giữ c̣n chiến thuyền của quân Nguyên th́ đóng ở bến Chương Dương, địa phận huyện Thượng Phúc. Nhà vua chuẩn tấu cho Trần Quang Khải thu xếp quân sĩ để ra đánh Thăng Long và truyền hịch sai Trần Nhật Duật đóng quân chặn đường không cho bọn Toa Đô kéo về giải cứu. Trần Quang Khải cùng với Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lăo đem quân tự Thanh Hoá đi thuyền ṿng đường bể ra đến bến Chương Dương, ào ạt đánh vào chiến thuyền của quân Nguyên. Quân Nguyên địch không nổi phải chạy bộ về thành Thăng Long nhưng vẫn bị quân ta đuổi theo truy kích. Ở kinh thành, thái tử Thoát Hoan đem đại binh ra chống cự, nhưng bị phục binh của Trần Quang Khải đánh úp lại, quân Nguyên phải bỏ thành vượt qua sông Hồng Hà để sang giữ mặt Kinh Bắc. Thượng Tướng Trần Quang Khải đem quân vào Thăng Long thành mở tiệc ăn mừng chiến thắng, và trong bàn tiệc tướng quân đă giương cao ngọn giáo, cướp được của tướng địch, mà ngâm bài thơ ông vừa sáng tác:
Bài thơ tạm dịch là
Đời xưa cũng có vị tướng quân, người phương Bắc, uống chén rượu bồ đào rồi ngâm thơ vang say chốn sa trường mà nói rằng xưa nay chinh chiến có mấy ai là ngựi đă về, th́ giờ đây tráng sĩ miền Nam đă nâng chén rượu chiến thắng để xưng tụng giang sơn rồi đây ngàn vạn năm vẫn c̣n tồn tại, nghe ra c̣n oai hùng hơn nhiều. Một danh tướng khác đời Trần là ông Phạm Ngũ Lăo, có tài kiêm văn vơ. Ông đối với quân sĩ hết mực yêu thương, binh đoàn của ông đánh đâu được đó. Người đời gọi quân ông là “Phụ Tử chi binh”. Cũng v́ vậy mà ngày nay trong quân đội có những đơn vị được gọi là “Huynh Đê chi binh”, là theo gương của Phạm Ngũ Lăo đời xưa. Văn thơ của ông làm có một bài đắc ư là bài Thuật Hoài:
mà cổ nhân đă dịch ra quốc văn
Sau những chiến thắng Hàm Tử và Chương Dương, tiếp theo là trận Tây Kết, tướng nhà Trần chém được Toa Đô, Ô Mă Nhi phải xuống thuyền nhỏ trốn chạy về Tàu, và kết liễu trận Tây Kết này vào tháng Năm năm Ất Dậu (1285), Hưng Đạo Vương đại phá quân Nguyên, bắt được hơn ba vạn người, và chiến thuyền khí giới không biết bao nhiêu mà kể, Thoát Hoan phải chui vào một ống đồng để lên xe cho bại binh kéo chạy về Tàu. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn phá được quân Nguyên rồi kéo quân về Tràng An, rước vua Trân Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thánh Tông ra Thăng Long. Bọn Thoát Hoan khi ra quân, binh tướng thanh thế lẫy lừng. lúc thảm bại chạy về vô cùng nhục nhă, làm Nguyên Chủ uất ức, phải hoăn việc cất quân sang đánh Nhật Bàn, rồi sai đóng thêm 300 chiến thuyền và truyền hịch cho ba tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng và Giang Tây để động viên quân sĩ dự định theo hai đường châu Khâm và châu Liêm sang đánh nước Nam để báo thù. Nhân Tông khi nghe tin Nguyên triều sắp sửa cất quân sang xâm chiếm nước ta bèn vời Hưng Đạo Vương vào hỏi ư kiến. Vương tâu rằng:
Sang mùa xuân tháng Hai năm Đinh Hợi (1287), Nguyên chủ lại sai Thoát Hoan thống lĩnh một đạo quân hùng mạnh sang đánh nước Nam, giả danh đem Việt gian Trần Ích Tắc về nước để lập làm An Nam Quốc Vương. Vua Trần Nhân Tông lại sai Hưng Đạo Vương thống lĩnh các vương hầu chia quân pḥng lĩnh các nơi. Trong cuộc chống quân Nguyên lần này có hai trận oanh liệt được ghi vào Hải sử của Việt Nam. Trước hết là trận Vân Đồn đă tỏ rơ ư chí chống ngoại xâm của quân dân nước Việt, tuy thế yếu lúc đầu thua một trận, nhưng lại chỉnh hàng ngũ để chiến thắng quân thù một cách vẻ vang. Quân Nguyên xâm lăng, lúc mới tràn sang, Thái Tử Thoát Hoan đem binh mă vây đánh Thăng Long không được phăi rút về giữ Vạn Kiếp, Chí Linh và Phả Lại. Khi lương thực sắp cạn, Thoát Hoan sai dũng tướng Ô Mă Nhi dẫn thủy quân ra cửa bể Đại Bàng đón thuyền tiếp tế lương thực. Khi đi tới ngang ải Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Yên, gặp quân chặn đường của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, Ô Mă Nhi đă dụng toàn lực đánh rát một trận, phá tan đoàn chiến thuyền nhà Trần để mở sinh lộ ra bể đón thuyền lương. Là chủ tướng, bị thua một trận, trước khi về chịu tội trước Thượng Hoàng, Khánh Dư đă nhặt nhạnh thuyền bè c̣n lại, hô hào thủy thủ cùng binh sĩ gây lại tinh thần rồi mai phục ở cửa bể Lục Thủy Dương chờ đợi thuyền lương của tướng Nguyên là Trương Văn Hổ để quyết một trận tử chiến. Trước khí thế của quân ta, quân Nguyên địch không nổi, phải quy hàng, thuyền lương bị phá cướp mất cả, chủ tướng Trương Văn Hổ bỏ trốn xuống thuyền nhỏ chạy về Quỳnh Châu. Chiến thắng Vân Đồn đă mở đầu cho trận thắng quyết liệt trên Bạch Đằng Giang. Quân Nguyên không nhận được tiếp tế, lương thảo ngày một cạn, nên các tuớng bàn với chủ soái Thoát Hoan về chuyện rút quân. Hưng Đạo Vương dự đoán được kế hoạch rút quân của Mông Cổ nên sai Nguyễn Khoái dẫn binh theo đường tắt lên thượng lưu sông Bạch Đằng đóng cọc gỗ có mũi nhọn bịt sắt giữa ḷng sông rồi đợi lúc thủy triều lên, mặt nước mênh mông, ra khiêu chiến và rút chạy, nhử cho quân của Ô Mă Nhi và Phàn Tiếp đuổi theo đưa chiến thuyền chạy thật xa qua nơi có mai phục, rồi mới quay thuyền đánh vật lại. Trên đường đem đại quân đi tham chiến ở Bạch Đằng Giang, khi qua Hoá Giang, Hưng Đạo Vương mới hô quân sĩ trỏ xuống sông mà thề rằng:
Tới nay đă hơn 700 năm trôi qua, lời thề sông Hoá này vẫn là lời vàng ghi tạc trong ḷng người con dân nước Việt. Đại quân của Hưng Đạo Vương tới sông Bạch Đằng vừa gặp lúc chiến thuyền của Nguyễn Khoái đánh vật lại binh thuyền quân Nguyên. Ô Mă Nhi và Phàn Tiếp thấy quan quân ta to thế lắm, tiến hô “sát đát” vang dậy mặt sông phải quay thuyền chạy trở lại. Khi tới khúc sông có cọc đóng th́ nước thủy triều đă rút xuống, thuyền của quân Nguyên mắc phải cọc, đổ nghiêng ngửa, đắm vỡ mất nhiều. Quân ta thừa thắng, đánh cực hăng, quân Nguyên bị đại bại, máu chẩy đỏ rực ḷng sông, các tướng Nguyên như Ô Mă Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc đều bị bắt tại trận. Trận Bạch Đằng đánh vào tháng Ba năm Mậu Tí (1288), quân ta phá tan thủy quân Mông Cổ, bắt được hơn 400 chiến thuyền và quân sĩ rất nhiều. Thoát Hoan khi nghe tin Thủy quân đă tan vỡ, liền vội vă cùng với các bộ tướng cố mở đường tháo chạy về biên giới. Trên đường rút quân, đoàn quân chủ lực này c̣n bị những toán quân mai phục do Hưng Đạo Vương đặt trước trên đường về đổ ra đánh, nên khi Thoát Hoan chạy thoát ra cửa ải, quân sĩ mười phần đă tổn hại đến quá nửa, những dũng tướng Mông Cổ như Trương Quân, A Bát Xích, Trương Ngọc đều phơi thây nơi trận địa. Hưng Đại Vương ra quân chuyến này diệt trừ hết được quân xâm lăng Mông Cổ mới hội cả các tướng dẩn quân rước xa giá Thượng Hoàng và Nhân Tông về kinh sư. Thấy giang sơn lại được thanh b́nh, Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đă vui mừng làm hai câu thơ để kỷ niệm:
dịch chữ nôm là
Trong suốt thời kỳ chống Nguyên, vua Trần Nhân Tông đă ṭ ra là một vị vua tài giơi. Ngài là con trưởng của vua Thái Tông, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi, làm Thượng Hoàng 5 năm, xuất gia đi tu 8 năm, hưởng thọ 51 tuổi. Phật giáo thịnh hành nhiều thế kỷ hoàng triều nhà Trần. Mới đây những sử gia đă t́m ra được di chúc của vua Trần Nhân Tông để lại cho con cháu:
Cho đến năm Ất Dậu vừa qua, 720 năm đă qua, tính theo 10 năm là một
can và 12 năm thành một chi, ghép can chi với nhau th́ mỗi 60 năm là
một giáp, trở lại tuần hoàn th́ từ năm chiến thắng quân Nguyên cho
tới năm 2005 đă qua đúng 12 giáp và lại trở thành năm Ất Dậu. Vậy mà
tập đoàn cầm quyền cộng sản Việt Nam đă không biết nhục phản quốc
của Trần Di Ái lại mang đất đai biển cả dâng hiến cho Trung cộng.
Theo như di chúc của vua Trần Nhân Tông để lại, đúng như ḷi nhà vua
tiên đoán, nước Tầu sẽ lấn áp nếu kẻ phản quốc cầu vinh nhường nhịn
và chỉ hai năm sau thoả hiệp kư két dâng đất nhượng biển, Trung Cộng
lại ngang nhiên thôn tính hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đất
nước ta. Lịch sử sẽ lại tiếp diễn để báo hiệu ngày tàn lụi của những
kẻ măi quốc cầu vinh chẳng c̣n bao xa. Kể những thời đại nước Việt Nam mất quyền tự chủ và chịu ách thống trị của ngoại bang, th́ những năm thuộc nhà Minh (1414-1427), tuy chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng lại là những năm mà dân chúng đă phải chịu đựng nhiều lầm than khổ nhục. Năm Bính Tuất (1406) Minh Thành-Tổ, mượn cớ giúp vua nhà Trần dẹp sự tiếm nghịch của Hồ Qúi-Ly, sai Thành quốc-công là Chu Năng làm Đại tướng, cùng với hai phó tướng là Tân thành-hầu Trương Phụ và Tây b́nh-hầu Mộc Thạnh tuyển binh làm hai đạo sang đánh An-Nam. Khi tả quân từ Quảng Tây đến Long Châu th́ đại tướng Chu Năng qua đời và Trương Phụ lên làm thống lĩnh, tiến quân đánh lấy cửa Ba Lụy, tức là Nam quan bây giờ, rồi tiến sang phía tây bắc, về mé sông Cầu. Từ Vân Nam, Mộc Thạnh chuyển quân theo đường Mông Tự sang đánh lấy cửa Phủ Lĩnh thuộc tỉnh Tuyên-Quang rồi tiến về phía Sông Thao để hội ở Bạch Hạc với đạo quân của Trương Phụ. Phó tướng Mộc Thạnh là người nhiều mưu lược, nhưng lại dè dặt trong việc dụng binh. Trong khi ấy th́ Trương Phụ là người tham bạo, đi đến đâu là tàn sát, thây người xếp thành núi, người chết rồi c̣n nấu thịt để lấy dầu. Mặt khác quân xâm lăng nhà Minh c̣n chiêu dụ người bản xứ ra làm tay sai, nhận những chức quan nhỏ để cùng chúng vơ vét bạc vàng, bắt đàn bà con gái để đưa về Tầu. Người dân, tuy oán hận Hồ Qúi-Ly, nhưng cũng c̣n luyến tiếc nhà Trần, và cảm thấy nỗi nhục vong quốc nên vẫn c̣n có nhiều nơi nổi lên phù trợ hậu duệ vua Trần để chống quân xâm lăng. Trương Phụ và Mộc Thạnh phải hai lần kéo quân sang nước ta, quân Minh hung hăn đánh dẹp từ địa đầu quan ải cho đến tận đất Hoá châu.
Tháng Chín năm
Qúy Tỵ (1413), Trương Phụ dẫn quân vào Thuận Hoá, phá được tàn quân
nhà Hậu Trần, vị vua cuối cùng là Trần Qúi Khoách, cùng với những bộ
tướng trung kiên như Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy phải chạy
vào ẩn núp trong rừng núi nhưng sau đó đều bị bắt, và trên đường bị
giải về Yên Kinh vua tôi đều tuẫn tiết, mang cái chết báo đền cho
non sông. Trong thời gian lệ thuộc nhà Minh tiếp theo đó (1414-1427), dưới sự cai trị thật dă man và tàn nhẫn của bọn tham quan Lư Bân và Mă Kỳ được cử sang thay cho Trương Phụ, dân ta bị sách nhiễu trăm đường khổ sở. Những chỗ có mỏ vàng, mỏ bạc th́ dân bị đốc thúc đi khai mỏ, thật là cực nhọc. Miền rừng núi th́ người sơn cước bị lùa vào rừng, t́m ngà voi, sừng tê giác, săn bắn, đặt bẫy để bắt những loài chim qúy, những thú vật hiếm hoi để đưa về Tầu, dễ gây ra diệt chủng cho nhiều loài muông thú. Trong khi ấy th́ lại có những người bản xứ, tuy cũng đă theo đ̣i nghiên bút, biết đôi chữ nghĩa, nhưng v́ tham danh lợi, không cần liêm sỉ, ra làm quan với nhà Minh, ỷ thế vào giặc để tham nhũng bóc lột dân lành. Vào thời đại dân t́nh cực khổ, ḷng người sầu oán, sĩ phu càng thấy tâm hồn ưu uất khi đọc lại bài Thuật Hoài của liệt sĩ Đặng Dung:
Hai câu cuối tả người tráng sĩ dưới trăng mài kiếm lo báo thù nước, hay được người đời nhắc nhở, và dịch là
Nhưng đất nước ta, qua cơn bĩ cực lại tới tuần thái lai. Nhờ vận nước trở lại hanh thông, vị anh hùng áo vải ở Lam Sơn là Lê Lợi, vào mùa Xuân năm Mậu Tuất (1418) đă dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là B́nh Định Vương, truyền hịch khắp nơi kể tội nhà Minh và kêu gọi người dân đồng ḷng hiệp sức đuổi quân xâm lăng tàn bạo ra khỏi bờ cơi của non sông. Sau mười năm gian lao vất vả, B́nh Định Vương nhờ được chính nghĩa, dùng sức yếu mà thắng được thế giặc mạnh, phá tan quân địch ở Tây Kinh, rồi kéo quân về uy hiếp Đông Đô, làm khiếp vía Chinh Di tướng quân là Vương Thông do Minh Đế cử sang cứu viện. Trong trận đánh cuối cùng, quân Minh lại tăng viện theo hai ngả, dùng Chinh Lỗ phó tướng quân Liễu Thăng theo đường Quảng Tây và Chinh Nam đại tướng quân Mộc Thạnh theo đường Vân Nam, những tưởng phen này lại phá thành dẹp lũy, đem bản đồ đất Giao châu về Minh triều dâng hiến. Nào ngờ quân của B́nh Định Vương, đao mài lưỡi cho sắc, mũi thương nung cho nhọn, quân sĩ hăng say quyết ḷng tử chiến với địch, ở trận Chi Lăng Liễu Thăng bị đại bại, để rồi tử vong tại Mă Yên Sơn, tướng nhà Minh th́ Lương Minh tử trận, Lư Khánh đâm cổ tự vẫn. Đám tàn quân do đô đốc Thôi Tụ và thượng thư Hoàng Phúc thu thập, kéo nhau chạy về Lạng Giang cũng bị những hổ tướng của B́nh Định Vương là Lê Khôi và Nguyễn Xí đem quân thiết kỵ đuổi theo truy kích và vây bắt để rồi kẻ dập đầu tạ lỗi, người qùy gối đầu hàng. B́nh Định Vương, lấy nhân nghĩa để thu phục ḷng người nên mở đường cho Vương Thông dâng biểu về vua Tuyên Tông nhà Minh để xin cầu hoà. Đến tháng chạp năm Đinh Mùi (1427), Vương y lời hội ước, tha chết cho quân Minh, cấp cho thủy quân 500 chiếc thuyền và giao cho bọn Phương Chính và Mă Kỳ quản lĩnh để dương buồm ngược về Bắc phương, và cùng một lúc thả 2 vạn quân sĩ đă ra hàng cho Tham tướng nhà Minh là Mă Anh chấp lănh, rồi đưa qua sông Nhị Hà để lục tục kéo về Tầu cùng với chủ tướng Vương Thông đi đoạn hậu. Đuổi được quân thù ra ngoài bờ cơi, toàn dân Việt đă hoan ca mở một kỷ nguyên mới, tự chủ cho giang sơn. Sau khi đă dẹp xong nạn xâm lăng, đánh đuổi quân Minh trở về phương Bắc, Vương ra lệnh cho công thần Nguyễn Trăi viết bản "B́nh Ngô Đại Cáo" tại bờ sông Hồng, trong tư dinh Bồ Đề để tuyên cáo với quốc dân rằng can qua nay đă hết, quốc gia bắt đầu một thời đại b́nh trị. Bản văn viết từ năm 1427, cho tới nay đă trải qua gần 6 thế kỷ mà vẫn lưu truyền lại như là một áng văn chương tuyệt tác, nói lên tinh thần bất khuất của người dân Việt, khi đọc lên lại thấy từ chương hào hùng đậm t́nh dân, nghĩa nước, ư nghĩa lại xâu xa đề cập tới những lư thuyết khoa học cao siêu như đề pḥng muông thú tuyệt chủng, bảo vệ môi sinh, những điều mà các nước tiền tiến trên hoàn vũ phải sang hậu bán thế kỷ thứ hai mươi mới đề cập đến. Bản hùng văn viết bằng chữ Hán, được cụ Phó bảng Bùi Kỷ dịch ra chữ quốc ngữ nay lại được nữ sĩ Trùng Quang dịch ra văn vần, theo thể song thất lục bát. Đoạn văn mở đầu đă minh định rằng nước Việt ta là một nước văn hiến, độc lập, cùng với các triều đại Trung quốc, hai phương khác nhau. Từ đoạn dịch văn suôi:
nay chuyển sang lời thơ
Bản văn nhắc lại những chiến tích diệt xâm lăng trưóc kia, quân ta đă đánh bại nhiều danh tướng uy dũng của thiên triều
cùng với lời thơ dịch
Quân Minh đă vơ vét tài sản của dân Việt mang về và người trí lự có kiến thức bác học là Nguyễn Trăi đă nghĩ ngay tới sự thiệt hại lâu dài, những loài muông thú qúy hiếm có thể bị diệt chủng, cảnh vật thiên nhiên trở nên tiêu điều thiếu sự cân bằng. Chúng ta thử đọc đoạn phiên dịch văn suôi của cụ phó bảng Bùi Kỷ
Những lời than phiền báo động này, thường được nghe ở thế kỷ hiện hữu từ các nước tiền tiến, thế mà đă được Quan phục hầu Nguyễn Trăi viết ra từ đầu thế kỷ thứ 15, và nay được cụ Trùng Quang viết thành thơ cho giới trẻ dễ đọc, dễ nhớ
Trong mười năm kháng chiến, trải bao gian khổ, nhiều lúc Vương thấy thật là cô đơn v́ thiếu ngựi có tài năng trợ giúp. Nguyễn Trăi đă bộc lộ được sự khao khát cầu hiền của minh chủ qua những lời viết thật tha thiết
và lời thơ dịch của người thời nay cũng theo sát được hết ư từ
Trong "B́nh Ngô Đại Cáo" có những câu mà nay trở thành kinh điển, được nhiều đoàn thể trích dẫn in trong những thông cáo gửi cho thành viên hay kèm theo hịch văn phổ biến ra đại chúng. Những câu hay được nhắc nhở đến là
Những câu thơ đối chiếu, đời nay viết ra, tuy nhịp nhàng nhưng không kém phần uy dũng
Trước khi vào đoạn kết, báo cho toàn dân biết giang sơn từ đây mở mặt, xă tắc từ nay vững bền, đại công thần Nguyễn Trăi, người đă từng theo B́nh Định Vương bao năm, trải nhiều gian truân, cam khổ, đă biết phơi bầy ḷng dạ nhân từ của Vương khi tha chết cho tàn quân Minh, giờ đây đă run sợ quy hàng. Trong bản phiên dịch của cụ Bùi Kỷ ta đọc được những câu
Nhửng câu văn tả những chiến tích oai hùng diệt ngoại xâm của vua Lê Lợi, nhưng cũng nói lên lượng hải hà của B́nh Định Vương. Nữ sĩ Trùng Quang đă dịch lại như sau
Trải qua gần sáu trăm năm, bài văn
“B́nh Ngô Đại Cáo” vẫn xứng đáng
được coi như là một “Kim Cổ Hùng Văn”. Qua hai ngàn năm lịch sử, ta đă thấy mưu toan thôn tính Việt Nam của Trung Quốc và giờ đây với vị trí chiến lược của Việt Nam, là nơi có thể dùng làm căn cứ quân sự Hải và Không Quân để kiểm soát tất cả mọi di chuyển chiến lược hàng hải giữa Ấn Độ Dương và Thái B́nh Dương, cộng thêm sự phát hiện của năng lượng dự trữ dầu hoả trên thềm lục địa dọc theo bờ biển, càng làm cho Việt Nam thành một quốc gia được thế giới chú ư tới. Muốn cho đất nước ta thoát khỏi ảnh hưởng tàn bạo và thâm độc cũa phương Bắc, lối thoát độc nhất phải là toàn dân liên kết, trong và ngoài nước chống mọi thể chế độc tài, và tranh đấu để thực hiện tự do, dân chủ và nhân quyền cho đất nước. Muốn vươn lên và trở nên thịnh vượng, Việt Nam phải từ bỏ chế độ cộng sản, xây dựng một nền kinh tế thị trường, và trở thành đồng minh của các nước tự do dân chủ. Cách đây hơn bẩy thế kỷ, vào năm Ất Dậu (1285), một quân dân Việt Nam anh dũng đă đẩy lui được sự xâm chiếm lănh thổ của Bắc phương. Những bọn Việt gian tội đồ của dân tộc như Trần Di Ái đều bị người đương thời nguyền rủa. Nếu năm Ất Dậu phá quân Nguyên được ghi vào sử xanh như là một mốc thời gian oai hùng th́ một năm Ất Dậu khác, là năm 1945 lại là một năm đau thương trong Việt sử. Một trận đói kinh hoàng đă bao phủ một màn tang trên đất nước, với hơn hai triệu người thảm tử. Nhưng đau đớn hơn nữa cho dân tộc là năm ấy cũng là năm Việt Minh cướp chính quyền bắt đầu ngự trị trên đất nước cho đến năm 2005 là tṛn một kỷ, 60 năm đất nước lầm than. Lịch sử của nước ta lúc nào cũng theo một nhịp độ tuần hoàn, hết suy trở thành thịnh, và năm Ất Dậu 2005 phải là năm bắt đầu một cuộc phục hưng cho Việt Nam trước sự thoái lui và bại vong của cộng sản, trải qua bao nhiêu năm thống trị trên quê hương, tội ác đă chất chồng.
Tiếc thay, trước khi tàn lụi, Đảng Cộng
Sản Việt Nam c̣n cúi đầu, che mặt, mặc cho Trung Cộng lấy trọn vẹn
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào cuối năm 2007, dựa lên những
văn kiện bán đất nhượng biển bọn cầm quyền đă kư kết khi xưa theo
lệnh của quan thầy. Cuối đời nhà Lê (1428-1788), vua tôi hèn kém, đất nước lâm vào cảnh Nam Bắc phân tranh, trong nước có vua lại có chúa, ngoài Bắc có loạn kiêu binh, trong Nam th́ quyền thần lấn áp, thật là một thời đại loạn. Gặp thời buổi nhiễu nhương, anh em nhà Tây Sơn ở B́nh Định đă khởi binh để lập nên một triều đại mới. Nhà vua cuối cùng của triều Lê là Lê Chiêu Thống lại hướng về ngoại bang sang cầu cứu vua nhà Thanh bên Tàu đưa quân sang dẹp nhà Tây Sơn. Vua Càn Long nhà Thanh, nghe theo lời mật tấu của Tôn Sĩ Nghị là Tổng Đốc Lưỡng Quảng, xuống chỉ sai họ Tôn đem quân sĩ bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Qúy Châu và Vân Nam sang đánh Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo, sai quan Tổng binh tỉnh Vân Nam và Qúy Châu đem một đạo qua ngả Tuyên Quang, Tri phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống đem một đạo qua ngả Cao Bằng c̣n ḿnh th́ cùng với Đề đốc Hứa Thế Hanh dẫn đại binh qua ải Nam quan theo đường Lạng Sơn giáp công tiến về thành Thăng Long, lực lượng quân Thanh có tới hơn hai mươi vạn tinh binh. Tổng Trấn kinh thành là tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở, thấy thế địch mạnh, sợ chống cự không nổi nên theo lời bàn của Lại bộ tả thị lang là Ngô Thời Nhiệm rút quân về Ninh B́nh, đóng giữ từ núi Tam Điệp ra tới bờ bể rồi sai người về kinh đô Phú Xuân cáo cấp. Trong khi ấy th́ ở Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị tự coi ḿnh như là Giám quốc, để vua Chiêu Thống hàng ngày sang dinh chầu chực đợi lệnh, văn thư tŕnh báo phải để niên hiệu Càn Long, nước Nam coi như đă thực sự mất quyền tự chủ. Trong ba anh em nhà Tây Sơn th́ có Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ là người dũng khí và có tài thao lược hơn cả nên khi non sông nguy biến, ngoại bang xâm chiếm đất đai, các quan văn vơ đều xin Vương lập chính ngôi tôn để ra Bắc chống địch. Ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân (1788), Vương làm lễ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung rồi tự ḿnh thống lĩnh thủy bộ đại binh ra đánh giặc Thanh. Cứu binh như cứu hỏa, vua Quang Trung vừa đi gấp kéo quân ra Bắc vừa tuyển thêm binh mă đến ngày 20 tháng Chạp th́ tới núi Tam Điệp tổng cộng quân sĩ đưa theo được 10 vạn người và hơn 100 con voi. Bọn Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm đều ra tạ tội v́ đă rút quân để bảo tồn chủ lực. Vua Quan Trung cười mà nói rằng:
Nói xong, vua Quang Trung ra lệnh cho tướng sĩ ăn Tết Nguyên Đán trước, định hôm Trừ tịch th́ cất quân đi, tính đến ngày mồng 7 tháng Giêng th́ vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Trận đánh quân Thanh giờ đi vào binh sử như là như là một thế trận được nghiên cứu quy mô, tỷ mỷ, biết quân ta, biết thế địch, xuất quân từ Tam Điệp, hướng về Thăng Long thành, có tiền quân đi tiên phong, hậu quân đi đốc chiến, hữu quân và thủy quân th́ đi ṿng đường bể, một cánh quân vào sông Lục Đầu tiếp ứng đường mé đông, một cánh quân lên vùng Lạng Giang, Yên Thế để chặn đánh đường quân Tàu chạy về, c̣n tả quân th́ đi đường núi, đem theo tượng binh ṿng đánh phía Tây, cũng chia làm hai cánh quân, một cánh đi xuyên qua huyện Chương Đức kéo đến Thanh Tŕ ở ngoại thành Thăng Long, và một cánh dùng tượng binh theo đường Huyện Sơn Lăng để tiếp ứng. Trên đường đi, Vương dùng chiến thuật đánh chớp nhoáng, cốt bắt trọn địch quân ở các tiền đồn nên không có tin báo về đại doanh của Tôn Sĩ Nghị. Nửa đêm ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) quân vua Quang Trung đến làng Hà Hồi ở ngoại thành Thăng Long, vây kín đồn giặc rồi nổi trống công thành, tiếng loa vang rội, quân sĩ dạ rầm cả lên nghe như tiếng muôn người. Quân canh đồn lúc đó mới tỉnh giấc, sợ hăi quy hàng, quân ta thu được toàn bộ quân lương cùng khí giới. Sáng mờ mờ ngày mồng 5, quân Tây Sơn tiến đến làng Ngọc Hồi, quân Thanh hết đường tháo lui đành liều tử chiến, đạn súng bắn ra như mưa. Vua Quang Trung sai người lấy những mảnh ván ghép lại rồi quấn cỏ ướt ở ngoài làm mộc chắn, cho từng toán quân, vài chục người một toán khiêng mộc đỡ đạn cùng tiến dần sát chân đồn rồi tràn vào xung phong chém giết. Quân Tàu địch không nổi ùa kéo nhau chạy. Quân Nam từ các đạo kéo về đều toàn thắng, giết quân nhà Thanh thây nằm ngổn ngang, máu chẩy như tháo nước. Những tướng nhà Thanh như Tiên phong Trương Sĩ Long, Tả dực Thượng Duy Thăng, Đề đốc Hứa Thế Hanh đều tử trận. Tri phũ Điền Châu là Sầm Nghi Đống thấy đạo quân ḿnh đóng ở Đống Đa bị tan vỡ, quân Nam vây kín mịt mùng nên sợ hăi quá mà thắt cổ tự tử. Chủ soái Tôn Sĩ Nghị, nửa đêm được tin cấp báo đă hoảng hốt bỏ cả ấn tín tháo chạy không kịp mặc áo giáp và thắng yên ngựa, đem theo mấy kỵ binh phóng qua cầu phao để nổi trên sông Nhị Hà mà vượt sang Kinh Bắc. Quân các trại, khi nghe tin thua trận, chủ tướng đă bỏ chạy cũng t́m đường tẩu thoát, tranh nhau sang cầu, một lát làm cầu phao lật đổ, nhiều người lăn xuống sông, mấy hôm sau sác quân Thanh chết đuối nổi đầy sông Nhị Hà. Một đạo quân Thanh hùng mạnh như vậy sang xâm chiếm Nam Việt, mà chỉ trong ṿng hơn một tháng đă bị thiên tài quân sự Quang Trung phá tan, chỉ riêng đạo quân từ Vân Nam và Qúy Châu kéo xuống dọc theo thung lũng sông Hồng, c̣n đóng ở miền Sơn Tây th́ được thoát nạn, và cũng phải vội vă cuộn cờ xí kéo về Tàu. Ngày hôm ấy vua Quang Trung đốc quân đánh giặc áo ngự bào nhuộm khói đen thuốc súng. Đến buổi trưa ngày mồng 5 vua Quang Trung vào thành Thăng Long, sớm hơn lời hẹn hai ngày. Người sai tướng đem binh đuổi đánh quân nhà Thanh cho tới biên giới, khí thế hùng mạnh đến nỗi người dân Tàu bên kia cửa ải phải bỏ nhà cửa theo quân Thanh chạy về miệt Bắc, hàng trăm dặm không c̣n bóng người. Trân Đống Đa đă kết thúc một giai đoạn tranh chấp biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam. Từ ngày Việt Minh chấp chánh làm chủ miền Bắc và từ năm 1975 toàn trị trên quê hương, sự nhân nhượng đàn anh phương Bắc càng ngày càng rơ rệt, và trong những năm gần đây Việt cộng đă phải kư giấy nhượng một phần đất đai trên mạn Cao Bằng, Lạng Sơn và hải phận trong Vịnh Bắc Việt cho Trung cộng, và nay lại bị bức bách cúi đầu lặng thinh để cho kẻ địch làm chủ toàn thể Đông Hăi. Bài viết này, nhắc lại những gương sáng của tiền nhân chống lại sự xâm lăng áp bức từ phương Bắc không ngoài mục đích cho thế hệ trẻ nh́n rơ đâu là làn ranh quốc cộng, v́ chỉ những người quốc gia chân chính mới đặt quyền lợi của dân tộc trên hết, biết trân qúy từng tấc đất, từng vũng biển của quê hương, không thể mang ra làm vật đổi chác để mua lấy sự che chở cho riêng ḿnh. Viết những gịng cuối cùng cho bài này, tôi không thể nào không nghĩ đến một bài trường thi gồm có một trăm câu hỏi về văn và sử học Việt Nam của cụ Đào Hữu Dương theo thể thơ lục bát. Hai câu hỏi cuối cùng trong bài thơ là:
Cảm kích v́ công lao sáng tác văn thơ hữu ích của một vị huynh trưởng, tôi đă dùng thể thơ lục bát để viết những câu trả lời, mỗi câu hỏi tôi đă dùng hai câu lục bát mới diễn tả được hết ư. Tôi xin ghi lại dưới đây những câu trả lời của tôi để đáp tạ thịnh t́nh của độc giả đă kiên nhẫn đọc hết bài này:
GS Nguyễn Xuân Vinh
|
|